vanban.org

Bản án 17/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 29/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Trần Hoài N, Lê Cao T và Hồ Bá A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hoài N 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 24/01/2025. 2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự Trần Hoài N và đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Trần Hoài N, Lê Cao T và Hồ Bá A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG,
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2025/HS-ST
Ngày 29/4/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Hữu Tỷ

2. Ông Phạm Xuân Đức.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà My – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Glong.

Đại diện VKSND huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn - Kiểm sát viên

Ngày 29/4/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Glong mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Trần Hoài N (Có mặt); tên gọi khác: Út; sinh năm: 1997 tại tỉnh B; nơi cư trú trước khi bị bắt tạm giam : bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: làm nông; con ông Trần H (đã chết) và con bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1959), hiện đang trú tại xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ; Bị cáo là con thứ tư trong gia đình có 04 người con; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/8/2020, bị Công an huyện Đắk Glong xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Phạt tiền” về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã thi hành xong). Bị cáo bị bắt giam từ ngày 24/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại khu vực Đắk Glong - Công an tỉnh Đắk Nông.

2. Bị cáo Lê Cao T (Có mặt); tên gọi khác: Tèo móp; sinh năm 1999, tại tỉnh L; nơi cư trú trước bị bắt tạm giam: thôn A, xã T, huyện D, tỉnh L; dân tộc: kinh, quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Lê Văn T (sinh năm 1969) và con bà Cao Thị T (sinh năm 1976), hiện đang sinh sống tại xã T, huyện D, tỉnh L; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 người con; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự không; nhân thân: Ngày 01/8/2022, bị Công an xã T, huyện D, tỉnh L xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (đã thi hành xong); Ngày 10/8/2022, Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Phạt tiền” về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (đã thi hành xong); Ngày 12/01/2023, UBND xã T ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã (đã thi hành xong). Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại khu vực Đắk Glong - Công an tỉnh Đắk Nông.

3. Bị cáo Hồ Bá A (Có mặt); tên gọi khác: không; sinh năm 1997, tại tỉnh Đ; nơi cư trú trước khi phạm tội: thôn A, xã K, huyện M, tỉnh Đ; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: làm nông; Con ông Hồ Bá C (sinh năm 1973) và con bà Đậu Thị N (sinh năm 1975) hiện đang sinh sống tại xã K, huyện M, tỉnh Đ; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 người con; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Trà M (sinh năm 2001) và 01 người con sinh năm 2023, hiện đang cư trú tại xã K, huyện M, tỉnh Đ; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/8/2020, bị Công an huyện Đắk Glong xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Phạt tiền” về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã thi hành xong); Ngày 20/6/2023, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tại bản án số 22/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện M'Đrăk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 07 năm tù. Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Đắk Tân – Bộ Công an, hiện được trích xuất về Phân trại khu vực Đắk Glong - Công an tỉnh Đắk Nông.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Huy C (Vắng mặt), sinh năm 1982.

Địa chỉ: thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Hoài N, Lê Cao T, Hồ Bá A có mối quan hệ bạn bè, quen biết xã hội với nhau.

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 17/4/2020, N, T góp mỗi người 150.000 đồng rồi gọi điện nhờ A mua ma túy để sử dụng thì A đồng ý và liên lạc với người tên “Cu Nghi” hỏi mua 500.000 đồng ma túy (gồm 300.000 của N và 200.000 đồng của A). Sau đó, A thông báo lại thì N mang theo 01 ống thủy tinh và chở T đến nơi A làm việc tại Cây xăng P thuộc thôn Q, xã Q, huyện Đ.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, “Cu Nghi” đến Cây xăng, đưa cho A 02 gói ma túy đựng trong vỏ gói thuốc lá. A mua thêm nước ngọt, ống hút rồi chỉ N, T vào phòng ngủ phía sau cây xăng để sử dụng ma túy. Tại đây, T đục lỗ trên nắp chai, gắn ống hút và ống thủy tinh (do N đưa) để tạo thành bộ công cụ sử dụng ma túy. Sau đó, A đưa cho N 01 gói ma túy, N đưa lại cho T đổ vào nỏ thủy tinh, đốt nóng (nấu) để cả ba cùng sử dụng bằng cách hút. Khi hết, A lấy gói thứ hai, nói T đổ một phần vào nỏ để tiếp tục sử dụng, còn lại đưa cho A cất giữ. Khi N, T, A vừa sử dụng hết ma túy thì bị anh Nguyễn Hữu C (sinh năm 1992; là cửa hàng trưởng cây xăng) phát hiện, trình báo cơ quan Công an tiến hành lập biên bản vụ việc, thu giữ 01 gói ma túy trên giường của A, 01 gói thảo mộc khô đựng trong ví của N và các vật chứng liên quan.

Tại Biên bản xét nghiệm chất ma tuý ngày 18/04/2020 của Trung tâm y tế huyện Đắk Glong xác định: Trần Hoài N, Lê Cao T, Hồ Bá A dương tính với chất ma tuý.

Tại bản kết luận giám định số 51/KLMT-PC09 ngày 07/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận:

- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói nilon hàn kín được niêm phong trong bì thư ký hiệu 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng mẫu là 0,0228 gam; là Methamphetamine.

- Thảo mộc khô dạng cành, lá cây đựng trong 01 (một) gói nilon màu trắng được niêm phong trong bì thư ký hiệu 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng mẫu là 1,2117 gam; là cành, lá cây cần sa.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glong đã truy tố các bị cáo Trần Hoài N, Lê Cao T và Hồ Bá A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến gì thêm hay tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện; khi được nói lời sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm được trở về với cộng đồng, xã hội.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Trần Hoài N, Lê Cao T và Hồ Bá A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điển b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Trần Hoài N, Lê Cao T và Hồ Bá A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hoài N từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 24/01/2025.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Cao T từ 07 năm 06 tháng từ đến 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 21/01/2025

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoảng 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Bá A từ 07 năm 06 tháng từ đến 08 năm tù; tổng hợp với Bản án số 22/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk đã xử phạm bị cáo 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 14 năm 06 tháng tù đến 15 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ngày 23/6/2023.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự:

+ Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện đã ra các Quyết định xử lý vật chứng trả lại những tài sản cho chủ sở hữu do không liên quan đến hành vi phạm tội.

+ Tịch thu, tiêu hủy 02 vỏ thuốc Jet, 01 vỏ chai nhựa, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 đoạn ống thủy tinh, 02 bật lửa, 02 cây kéo, 01 gói lá và cành cây cầy sa (đã được niêm phong hoàn lại sau giám định).

- Về án phí hình sự: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Đối với đối tượng “Cu Nghi”, Hồ Bá A khai tên thật là Dương Minh V (sinh năm 1990; trú tại: bon R, xã Q, huyện Đ) nhưng V không thừa nhận việc bán ma túy cho A, ngoài lời khai của A không có tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh nên không đủ căn cứ xử lý đối với Dương Minh V.

- Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Hoài N và Hồ Bá A, Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; lời khai của bị cáo; lời khai của người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Hoài N, Lê Cao T và Hồ Bá A đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện cơ bản đúng như diễn biến sự việc theo bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glong đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người làm chứng, với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử nhận định: Khoảng 19 giờ ngày 17/4/2020, Trần Hoài N đã góp 150.000 đồng, Lê Cao T đã góp 150.000 đồng, Hồ Bá A đã góp 200.000 đồng và liên hệ với một đối tượng khác để mua ma túy về để sử dụng; ngoài ra, N, T và A còn chuẩn bị các công cụ, địa điểm để cùng nhau sử dụng ma tuý. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi N, T, A đang sử dụng ma túy trong phòng ngủ của A tại Cây xăng thuộc thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đ thì bị Cơ quan Công an phát hiện, lập biên bản vụ việc, thu giữ 0,0228 gam Methamphetamine và 1,2117 gam cành, lá cây cần sa; Các bị cáo đã có hành vi cùng nhau góp tiền mua ma túy, cung cấp chất ma túy, công cụ, phương tiện để cùng nhau sử dụng trái phép ma túy; Hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự. Cả 03 bị cáo đã cùng nhau góp tiền mua, chuẩn bị chất ma tuý, cùng nhau chuẩn bị các công cụ, địa điểm để sử dụng chất ma tuý và cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý nên hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp tổ chức cho 02 người sử dụng ma tuý trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định như sau:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

……

b) Đối với 02 người trở lên

……”.

Xét tính chất vụ án và hành vi của các bị cáo: Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là công dân có đầy đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và những quy định của nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy; các bị cáo là những thanh niên có sức khỏe, có khả năng lao động, lẽ ra các bị cáo phải biết tu dưỡng, rèn luyện nhưng lại xuất phát từ mục đích ích kỷ của bản thân nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên các bị cáo đã có hành vi mua, cung cấp chất ma túy, công cụ, phương tiện, địa điểm để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng, đây là một vấn nạn của xã hội chính từ ma túy mà nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội khác, chính tác hại đó mà pháp luật nghiêm cấm và nghiêm khắc trừng trị loại tội phạm này. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về nhân thân các bị cáo:

Đối với bị cáo Trần Hoài N: Tiền án, tiền sự không; ngày 26/8/2020, bị Công an huyện Đắk Glong xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Phạt tiền” về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã thi hành xong).

Đối với bị cáo Lê Cao T: Tiền án, tiền sự không; ngày 01/8/2022, Công an xã T, huyện D, tỉnh L xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy (đã thi hành xong); ngày 10/8/2022, bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Phạt tiền” về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (đã thi hành xong); ngày 12/01/2023, UBND xã T ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã (đã thi hành xong).

Đối với bị cáo Hồ Bá A: Tiền án, tiền sự không; ngày 26/8/2020, bị Công an huyện Đắk Glong xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Phạt tiền” về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (đã thi hành xong); Ngày 20/6/2023, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tại bản án số 22/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện M'Đrăk, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 07 năm tù, hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đắk Tân – Bộ Công an.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vai trò của các bị cáo trong vụ án và mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Các bị cáo đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Các bị cáo thừa nhận đều là những người nghiện ma túy nên đã rủ nhau góp tiền để mua ma túy, chuẩn bị công cụ để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, ngoài các bị cáo ra thì không còn ai khác tham gia sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Hồ Hoài A là người góp nhiều tiền hơn, liên hệ để mua ma tuý, chuẩn bị địa điểm để sử dụng ma tuý, giữ vai trò tích cực hơn nên phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác, bị cáo Trần Hoài N và Lê Cao T góp tiền như nhau để mua ma túy, cùng chuẩn bị cáo công cụ để sử dụng trái phép chất ma túy nên có vai trò như nhau.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian dài thì mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo Hồ Bá A, vào năm 2023 đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý và bị Tòa án nhân dân huyện M’Drắk tỉnh Đắk Lắk đã xử phạt 07 năm tù và hiện đang phải chấp hành án tù tại Trại giam Đắk Tân – Bộ Công an nên cần áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp các bản án.

Đối với đối tượng “Cu Nghi”, Hồ Bá A khai tên thật là Dương Minh V (sinh năm 1990; trú tại: bon R, xã Q, huyện Đ) nhưng V không thừa nhận việc bán ma túy cho A, ngoài lời khai của A không có tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh nên không đủ căn cứ xử lý đối với Dương Minh V.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trần Hoài N và Hồ Bá A, Công an huyện Đắk Glong đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ của Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự:

- Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã có Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu do không liên quan đến hành vi phạm tội và trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp và cần chấp nhận.

- Đối với 02 vỏ thuốc Jet, 01 vỏ chai nhựa, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 đoạn ống thủy tinh, 02 bật lửa, 02 cây kéo, 01 gói lá và cành cây cầy sa (đã được niêm phong hoàn lại sau giám định) đã thu giữ là những công cụ liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng hoặc thuộc vật cấm lưu thông nên cần tịch thu và tiêu huỷ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Do các bị cáo bị kết án nên mỗi bị cáo phải nộp 200.000 tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với các quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Trần Hoài N, Lê Cao T và Hồ Bá A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hoài N 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 24/01/2025.

1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Cao T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 21/01/2025.

1.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và khoảng 1 Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Bá A 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng tù. Tổng hợp với Bản án số 22/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện M’Drắk, tỉnh Đắk Lắk đã xử phạt 07 (Bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 14 (Mười bốn) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/6/2023.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự :

- Chấp nhận việc cơ quan Công an đã có quyết định xử lý vật chứng trả lại đồ vật, tài liệu không liên quan đến hành vi phạm tội cho chủ sở hữu hợp pháp.

- Tịch thu, tiêu huỷ 02 vỏ thuốc Jet, 01 vỏ chai nhựa, 01 đoạn ống hút nhựa, 01 đoạn ống thủy tinh, 02 bật lửa, 02 cây kéo, 01 gói lá và cành cây cầy sa (đã được niêm phong hoàn lại sau giám định).

(Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng vào ngày 31/3/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong và Chi cục THADS huyện Đắk Glong)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Trần Hoài N, Lê Cao T và Hồ Bá A mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ