- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Minh H cùng đồng phạm đánh bạc bằng hình thức đá gà - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh H phạm tội “Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt dưới mức thấp nhất
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2023/HS-ST Ngày: 17-3-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thơ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Hòa;
2. Ông Huỳnh Trung Tài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Mai, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Biết – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 68/2022/TLST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/HSST-QĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. H2 Minh H, sinh năm 1985, tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp P1, xã X, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông H2 Văn T (đã chết) và bà Hồ Thị M; bị cáo có vợ, 01 người con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã xóa án tích); bị tạm giữ từ ngày 26-6-2022, tạm giam từ ngày 05-7-2022, đến ngày 13-8-2022 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại.
2. Lê Văn Q, sinh năm: 1987, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số nhà 617, ấp P3, xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; Q tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K và bà Phạm Thị V; bị cáo có vợ, 01 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 26-6-2022 đến ngày 05-7-2022, bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu áp dụng cấm đi khởi nơi cư trú từ ngày 05-7-2022; bị cáo tại ngoại.
3. Võ Phương H, sinh năm: 1985, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 12, ấp P3, xã X, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; Q tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T và bà Dương Thị S; bị cáo có vợ (đã ly hôn), 01 người con; tiền sự: Không có; tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 461/2019/HS-PT ngày 15/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Võ Phương H 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (15/5/2019); bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-9-2022; bị cáo tại ngoại.
4. Nguyễn Minh H1, sinh năm: 1988, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp P3, xã X, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Dương Thị X; bị cáo có vợ và 01 người con; tiền sự: Không có; tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 461/2019/HS-PT ngày 15/5/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Minh H1 01 năm 06 tháng tù, chấp hành án phạt tù xong vào ngày 12-8-2020; bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-9-2022; bị cáo tại ngoại.
5. Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1981, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp P3, xã X, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; Q tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Trần Thị Ng (đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không có; tiền sự: Quyết định số 06/QĐ-XPVPHS ngày 16/01/2022 của Công an xã X, Huyện Dương Minh Châu xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn H2, số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-9-2022; bị cáo tại ngoại.
6. Lê Mộng L, sinh năm: 1984, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 01, ấp P1, xã X, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; Q tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Trần Thị P; bị cáo có vợ (đã ly hôn), 01 người con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 05/6/2020, bị Công an xã X, Huyện Dương Minh Châu ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc số tiền 1.500.000 đồng (đã xóa); bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-9-2022; bị cáo tại ngoại.
7. Võ Thành T, sinh năm: 1988, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp P1, xã X, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; Q tịch: Việt Nam; con ông Võ Thành D bà Huỳnh Thị N; bị cáo có vợ, 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu xử phạt 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 04/2009/HSST ngày 08-02-2010 (đã xóa án tích); bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-9-2022; bị cáo tại ngoại.
8. Diệp Nhị Tuấn A, sinh năm: 1992, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Số 62, ấp P3, xã X, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao đài; Q tịch: Việt Nam; con ông Diệp Nhị H và bà Lê Thị Y; bị cáo có vợ, 01 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-9-2022; bị cáo tại ngoại.
9. Lâm Hữu T, sinh năm: 1977, tại: tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp P1, xã X, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không có; Q tịch: Việt Nam; con ông Lâm Uyên N và bà Huỳnh Thị Nh; bị cáo có vợ, 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-9-2022; bị cáo tại ngoại.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lê Thị Kim D, sinh năm 1991; địa chỉ: Số 05, tổ 03, ấp P3, xã X, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)
- Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 2000; địa chỉ: Ấp P3, xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 23-6-2022, H2 Minh H và đối tượng T (không rõ họ tên, địa chỉ) thỏa thuận cùng nhau làm cái cá cược đá gà thắng, thua bằng tiền. Mỗi ngày, Tài gặp H tại khu vực cầu K13 thuộc ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh rồi đưa cho H số tiền 20.000.000 đồng làm vốn làm cái cá cược đá gà thắng, thua bằng tiền, riêng T không đến địa điểm đánh bạc. Sau đó, H đi đến quán cà phê Vườn Dâu tại ấp P1, xã X, Huyện Dương Minh Châu do Lê Mộng L làm chủ để làm cái cá cược đá gà thắng, thua bằng tiền cho các đối tượng khác tham gia. Trước khi trận đá gà bắt đầu, H dùng điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, loại Note 11S, màu xanh - đencủa mình nhắn tin cho T để thông báo tổng số tiền cược của trận gà đó cho T biết. Khi kết thúc một ngày làm cái cá cược, nếu thắng H được T trả 10% tổng số tiền thắng, còn nếu thua thì H không phải trả tiền. Với cách thức trên, khoảng 10 giờ, ngày 26-6-2022, Tài hẹn gặp H tại khu vực cầu K13 thuộc ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh để nhận số tiền 20.000.000 đồng để làm vốn làm cái cá cược đá gà. Đến khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, H mang theo số tiền 51.500.000 đồng trong đó có số tiền 20.000.000 đồng T đưa cho H để làm vốn làm cái cá cược đá gà đến quán cà phê Vườn Dâu. Sau đó, H sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy A51 màu xanh - đen của L và 01 điện thoại di động Samsung màu đen của Nguyễn Thành L truy cập vào trang mạng “dagasv388.com” để xem trực tuyến các trận đá gà và cá cược trực tiếp với người tham gia cá cược gồm: Lê Văn Q, Võ Phương H, Nguyễn Minh H1; Nguyễn Văn H2, Lê Mộng L,Võ Thành T, Diệp Nhị Tuấn A, Lâm Hữu T, Nguyễn Thành L; với tỉ lệ cá cược là 10:9 hoặc 10:8 (có nghĩa là khi các bị can cá cược với bị can H nếu thắng thì chỉ thắng được 90% hoặc 80% trên số tiền cược, còn thua thì thua 100% số tiền cược). Trong đó, mỗi trận H cho những người tham gia cá cược thấp nhất số tiền là 500.000 đồng, cao nhất số tiền là 10.000.000 đồng. Tổng cộng H làm cái cá cược đá gà tổng cộng 07 trận, từ trận gà số 01 đến trận gà số 07, trong đó, trận gà cược thấp nhất với số tiền là 3.000.000 đồng, cao nhất với số tiền là 16.000.000 đồng. Cụ thể:
+ Trận gà số 01: H làm cái cá cược đá gà cho các bị can tham gia cá cược gồm: Lưu cá cược 3.000.000 đồng, Tài cá cược 1.000.000 đồng, với cùng tỉ lệ cược 10:9. Như vậy, tổng số tiền H cá cược ở trận gà này là 4.000.000 đồng. Kết quả, H thắng được 4.000.000 đồng, trong đó: thắng L 3.000.000 đồng và thắng T 1.000.000 đồng.
+ Trận gà số 02: H làm cái cá cược đá gà cho Q tham gia cá cược 3.000.000 đồng, với tỉ lệ cược đặt 10:9. Như vậy, tổng số tiền H cá cược ở trận gà này là 3.000.000 đồng. Kết quả, H thua 2.700.000 đồng.
+ Trận gà số 03: H làm cái cá cược đá gà cho các bị can và đối tượng tham gia cá cược gồm: Q cá cược 5.000.000 đồng, L cá cược 1.000.000 đồng, L1 cá cược 500.000 đồng, với cùng tỉ lệ cược 10:9, Tài cá cược 1.500.000 đồng, H2 cá cược số tiền 500.000 đồng, với cùng tỉ lệ cược 10:8. Như vậy, tổng số tiền H cá cược ở trận gà này là 8.500.000 đồng. Kết quả, H thua tổng số tiền là 7.450.000 đồng, trong đó: thua Q 4.500.000 đồng, thua L 900.000 đồng, thua T 1.200.000 đồng, thua H2 400.000 đồng, thua L 450.000 đồng.
+ Trận gà số 04: H làm cái cá cược đá gà cho các bị can và đối tượng tham gia cá cược gồm: Q cá cược 3.000.000 đồng, L cá cược 2.000.000 đồng, L cá cược 500.000 đồng, với cùng tỉ lệ cược 10:9. Như vậy, tổng số tiền H cá cược ở trận gà này là 5.500.000 đồng. Kết quả, H thua 200.000 đồng, trong đó: thua Q 2.700.000 đồng, thắng L 2.000.000 đồng, thắng Lợi 500.000 đồng.
+ Trận gà số 05: H làm cái cá cược đá gà cho các bị can và đối tượng tham gia cá cược gồm: Q cá cược 3.000.000 đồng, T cá cược1.000.000 đồng, L1 cá cược 500.000 đồng, với cùng tỉ lệ cược 10:9. Như vậy, tổng số tiền H cá cược ở trận gà này là 4.500.000 đồng. Kết quả, H thắng được 4.500.000 đồng, trong đó: thắng Q 3.000.000 đồng, thắng T 1.000.000 đồng, thắng L 500.000 đồng.
+ Trận gà số 06: H làm cái cá cược đá gà cho các và đối tượng tham gia cá cược gồm: Q cá cược 5.500.000 đồng, Tài cá cược 3.000.000 đồng, T cá cược 1.000.000 đồng, L1 cá cược 500.000 đồng, với cùng tỉ lệ cược 10:9. Như vậy, tổng số tiền H cá cược ở trận gà này là 10.000.000 đồng. Kết quả, H thắng được số tiền 2.400.000 đồng, trong đó, thắng Q 5.500.000 đồng, thua T 2.700.000 đồng, thua T 900.000 đồng, thắng L1 500.000 đồng.
+ Trận gà số 07: H làm cái cá cược đá gà cho các bị can và đối tượng tham gia cá cược gồm: Q cá cược 10.000.000 đồng, H cá cược 500.000 đồng, T cá cược 1.000.000 đồng, H2 cá cược 1.000.000 đồng, H cá cược 1.000.000 đồng, Tuấn A cá cược 1.000.000 đồng, T cá cược 1.000.000 đồng, L1 cá cược 500.000 đồng với cùng tỉ lệ cược 10:9. Như vậy, tổng số tiền H cá cược ở trận gà này là 16.000.000 đồng. Lúc này, khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, khi trận gà số 07 đang diễn ra thì bị bắt quả tang. H bị tạm giữ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi, loại Note 11S, màu xanh - đen và số tiền 57.900.000 đồng, trong đó có 30.000.000 đồng là tiền dùng để mua bò, số tiền 26.400.000 đồng là tiền thắng và tiền vốn dùng để làm cái cá cược đá gà, số tiền 1.500.000 đồng là tiền thắng khi làm cái cá cược đá gà vào các ngày 24 và ngày 25-6-2022.
Ngoài ra, H còn làm cái cá cược đá gà 02 lần khác thu lợi được số tiền 1.500.000 đồng, cụ thể: Ngày 24-6-2022, H sử dụng 20.000.000 đồng để làm cái cá cược đá gà, kết quả thắng được số tiền 5.000.000 đồng. Sau đó, H đưa toàn bộ số tiền vốn làm cái cùng số tiền thắng được cho đối tượng Tài và được Tài trả cho số tiền 500.000 đồng. Ngày 25-6-2022, H tiếp tục sử dụng số tiền 20.000.000 đồng để làm cái cá cược đá gà, kết quả thắng được số tiền 9.000.000 đồng.Sau đó, H đưa số tiền vốn làm cái cùng số tiền thắng được cho Tài và được Tài trả cho số tiền 1.000.000 đồng. Trong quá trình làm cái cá cược đá gà tại quán cà phê Vườn Dâu do Lê Mộng L làm chủ, H không có trả tiền xâu cho L.
Những người tham gia cá cược đá gà khi H2 Minh H làm cái, cụ thể như sau:
1. Lê Văn Q: Khoảng 11 giờ, ngày 26-6-2022, Q đến quán cà phê Vườn Dâu để tham gia cá cược đá gà do H làm cái. Khi đi, Q không mang theo tiền nên khi tham gia cá cược đá gà nếu thua thì Q sẽ thiếu và trả lại sau cho H. Q tham gia cá cược tổng cộng 06 trận gà, từ trận gà số 02 đến trận gà số 07 với tổng tiền cược là 29.500.000 đồng, với cùng tỉ lệ cược đặt 10 thắng 9. Trong đó, trận gà cược thấp nhất là 3.000.000 đồng, cao nhất là 10.000.000 đồng. Cụ thể: Trận gà số 02, Q cá cược 3.000.000 đồng, kết quả thắng; Trận gà số 03, Q cá cược 5.000.000 đồng, kết quả thắng; Trận gà số 04, Q cá cược 3.000.000 đồng, kết quả thắng; Trận gà số 05, Q cá cược 3.000.000 đồng, kết quả thua; Trận gà số 06, Q cá cược 5.500.000 đồng, kết quả thua. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, Q tham gia cá cược trận gà số 07 với số tiền cược 10.000.000 đồng, khi trận đá gà số 07 đang diễn ra, chưa có kết quả thì bị bắt quả tang. Kết quả, Q thắng được tổng số tiền 1.400.000 đồng, đã sử dụng 100.000 đồng trả tiền nước uống và bị tạm giữ 1.300.000 đồng là tiền thắng cá cược đá gà.
2. Võ Phương H: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 26-6-2022, H mang theo số tiền 3.300.000 đồng đến quán cà phê Vườn Dâu để tham gia cá cược đá gà do H làm cái. H tham gia cá cược 01 trận gà số 07,với tỉ lệ cược đặt 10 thắng 9, số tiền cược 500.000 đồng. Khi trận đá gà số 07 đang diễn ra, chưa có kết quả thì bị bắt quả tang và H bị tạm giữ 3.300.000 đồng là tiền vốn dùng để tham gia cá cược đá gà. Ngoài ra, H còn tham gia cá cược đá gà 01 lần khác vào ngày 25-6-2022, Hùng sử dụng số tiền 2.000.000 đồng để làm vốn tham gia cá cược đá gà do H làm cái, H tham gia cá cược 08 trận gà, mỗi cá cược đều với số tiền là 500.000 đồng, kết quả thua số tiền 2.000.000 đồng.
3. Nguyễn Minh H1: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 26-6-2022, Hướng mang theo số tiền 13.960.000 đồng đến quán cà phê Vườn Dâu và sử dụng 3.960.000 đồng để tham gia cá cược đá gà do H làm cái. H1 tham gia cá cược 01 trận gà số 07,với tỉ lệ cược đặt 10 thắng 9, số tiền cược 1.000.000 đồng. Khi trận đá gà số 07 đang diễn ra, chưa có kết quả thì bị bắt quả tang và H1 bị tạm giữ 13.960.000 đồng, trong đó có 3.960.000 đồng là tiền vốn dùng để tham gia cá cược đá gà, còn lại 10.000.000 đồng là tiền dùng để mua hàng tạp hóa.
4. Nguyễn Văn H2: Khoảng 12 giờ, ngày 26-6-2022, H2 mang theo số tiền 10.400.000 đồng đến quán cà phê Vườn Dâu để tham gia cá cược đá gà do H làm cái. H2 tham gia cá cược tổng cộng 02 trận gà, gồm: Trận gà số 03, H2 cá cược 500.000 đồng, kết quả thắng; trận gà số 07, H2 cá cược 1.000.000 đồng, khi trận đá gà số 07 đang diễn ra, chưa có kết quả thì bị bắt quả tang. Kết quả, H2 thắng được số tiền 400.000 đồngvà bị tạm giữ 10.800.000 đồng là tiền thắng và tiền vốn dùng để cá cược đá gà.
5. Lê Mộng L: Khoảng 12 giờ, ngày 26-6-2022, L2 sử dụng số tiền 15.000.000 đồng để tham gia cá cược đá gà thắng do H làm cái tại quán cà phê Vườn Dâu do L2 làm chủ. L2 tham gia cá cược tổng cộng 03, lần lượt các trận gà số 01, 03, 04 với cùng tỉ lệ cược 10:9, với tổng tiền cược là 6.000.000 đồng. Cụ thể: Trận gà số 01, L2 cá cược 3.000.000 đồng, kết quả thua; Trận gà số 03, L cá cược 1.000.000 đồng, kết quả thắng; Trận gà số 04, L cá cược 2.000.000 đồng, kết quả thua. Đến khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, L đang ngồi xem trận đá gà số 07 thì bị bắt quả tang. Kết quả, L thua 4.100.000 đồng và bị tạm giữ 10.900.000 đồng là tiền vốn dùng để cá cược đá gà còn lại và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A51, màu xanh - đen.
6. Võ Thành T: Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 26-6-2022, T mang theo số tiền 2.390.000 đồng đến quán cà phê Vườn Dâu để tham gia cá cược đá gà do H làm cái. T tham gia cá cược tổng cộng 04 trận gà, gồm các trận gà số 01, 06, 07 với cùng tỉ lệ cược 10:9 và trận gà số 03 với tỉ lệ cược 10:8, với tổng tiền cược là 6.500.000 đồng. Cụ thể: Trận gà số 01, T cá cược 1.000.000 đồng, kết quả thua; Trận gà số 03, T cá cược 1.500.000 đồng, kết quả thắng; Trận gà số 06, T cá cược 3.000.000 đồng, kết quả thắng. Khi T tham gia cá cược trận gà số 07 với số tiền cược 1.000.000 đồng, chưa có kết quả thì bị bắt quả tang. Kết quả, T thắng được 2.900.000 đồng và bị tạm giữ 5.290.000 đồng là tiền thắng và tiền vốn dùng để cá cược đá gà.
7. Diệp Nhị Tuấn A: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 26-6-2022, A mang theo số tiền 14.870.000 đồng đến quán cà phê Vườn Dâu để tham gia cá cược đá gà do H làm cái. A tham gia cá cược trận gà số 07, với tỉ lệ cược 10:9, số tiền cược 1.000.000 đồng. Khi trận đá gà số 07 đang diễn ra, chưa có kết quả thì bị bắt quả tang và A bị tạm giữ 14.870.000 đồng.
8. Lâm Hữu T: Khoảng 11 giờ 45 phút, ngày 26-6-2022, T mang theo số tiền 28.950.000 đồng đến quán cà phê Vườn Dâu và sử dụng số tiền 8.000.000 đồng để tham gia cá cược đá gà do H làm cái. T tham gia cá cược tổng cộng 03 trận gà, từ trận gà số 05 đến trận gà số 07, với tổng tiền cược là 3.000.000 đồng, với cùng tỉ lệ cược 10:9. Cụ thể: Trận gà số 05, T cá cược 1.000.000 đồng, kết quả thua; Trận gà số 06, T cá cược 1.000.000 đồng, kết quả thắng. Khi T tham gia cá cược trận gà số 07 với số tiền cược 1.000.000 đồng, chưa có kết quả thì bị bắt quả tang. Kết quả, T thua 100.000 đồng và bị tạm giữ 28.850.000 đồng, trong đó có 7.900.000 đồng là tiền vốn dùng để cá cược đá gà, còn lại 20.950.000 đồng là tiền dùng để trả tiền mua phân bón.
9. Nguyễn Thành L1: Khoảng 12 giờ, ngày 26-6-2022, L1 mang theo số tiền 2.500.000 đồng đến quán cà phê Vườn Dâu để tham gia cá cược đá gà do H làm cái, L1 tham gia cá cược tổng cộng 05 trận gà, từ trận gà số 03 đến trận gà số 07, với tổng tiền cược là 2.500.000 đồng, với tỉ lệ cược 10:9. Cụ thể: Trận gà số 03, L1 cá cược 500.000 đồng, kết quả thắng; Trận gà số 04, L1 cá cược 500.000 đồng, kết quả thua; Trận gà số 05, L1 cá cược 500.000 đồng, kết quả thua; Trận gà số 06, L1 cá cược 500.000 đồng, kết quả thua. Khi L1 tham gia cá cược trận gà số 07 với số tiền cược 500.000 đồng chưa có kết quả thì bị bắt quả tang. Kết quả, L1 thua 1.050.000 đồng và bị tạm giữ 1.450.000 đồng, 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A03, màu đen dùng để xem các trận đá gà.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các tình tiết khác được áp dụng:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn Q tham gia đặt cược tổng cộng 06 trận, thì có 02 trận gà trở lên xác định số tiền cá cược từng trận từ 5.000.000 đồng trở lên nên pH chịu tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Các bị cáo H2 Minh H, Nguyễn Minh H1 và Võ Phương H, Võ Thành T trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
+ Các bị cáo Lê Văn Q, Nguyễn Văn H2, Lê Mộng L, Diệp Nhị Tuấn A và Lâm Hữu T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, loại Note 11S, màu xanh – đen, không kiểm tra được số IMEI. (đã qua sử dụng)
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A51, màu xanh – đen, số IMEI 1: 353680115024830, số IMEI 2: 353681115024838. (đã qua sử dụng)
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, Loại Galaxy A03, màu đen, số IMEI 1: 353976317969487, số IMEI 2: 354550377969486. (đã qua sử dụng)
- 01 (một) túi nguyên niêm phong đã được Cơ quan CSĐT Công an Huyện Dương Minh Châu và Ngân hàng Agribank Chi nhánh Huyện Dương Minh Châu niêm phong đóng dấu trong đó có số tiền Việt Nam 147.170.000 đồng (một trăm bốn mươi bảy triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng)
* Kết quả kê biên tài sản:
- Kê biên thửa đất số 424, tờ bản đồ số 23, diện tích 1041,6m2, tọa lạc tại xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh của bị cáo Võ Phương H.
- Kê biên thửa đất số 665, tờ bản đồ số 22, diện tích 908,3m2, tọa lạc tại xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh của bị cáo Nguyễn Minh H1.
- Các bị cáo H2 Minh H, Lê Văn Q, Nguyễn Văn H2, Lê Mộng L, Võ Thành T, Diệp Nhị Tuấn A và Lâm Hữu T không có tài sản riêng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu không tiến hành kê biên tài sản.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo H2 Minh H, Lê Văn Q, Võ Phương H, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Văn H2, Lê Mộng L, Võ Thành T, Diệp Nhị Tuấn A và Lâm Hữu T phạm tội “Đánh bạc”;
+ Căn cứ điểm b khoản 2, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo H2 Minh H từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù; phạt bổ sung số tiền từ 20.000.000 đồng – 30.000.000 đồng.
+ Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Văn Q từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng.
+ Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Mộng L từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng.
+ Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Diệp Nhị Tuấn A từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng.
+ Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng.
+ Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lâm Hữu T từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng.
+ Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H1 từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng.
+ Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Phương H từ 03 (ba) đến 06 (sáu) tháng tù; phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng. Căn cứ khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Võ Phương H pH chấp hành hình phạt tù của Bản án số 62/2019/HS-PT ngày 15-5-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh là 02 năm tù. Căn cứ khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung bị cáo Võ Phương H pH chấp hành theo quy định.
+ Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Võ Thành T từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ; phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng – 20.000.000 đồng.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước tiền, phương tiện sử dụng vào mục đích đánh bạc và tiền có được do thắng bạc.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp của hành vi, Quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện:
Vào ngày 26-6-2022, tại khu vực ấp P1, xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, H2 Minh H đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức làm cái cá cược đá gà tổng cộng 07 trận với số tiền cá cược là 51.500.000 đồng cho người khác tham đặt cược gồm: Lê Văn Q đặt cược tổng cộng 06 trận với số tiền cá cược từ 3.000.000 – 10.000.000 đồng/trận, Lê Mộng L đặt cược tổng cộng 03 trận với số tiền cá cược là 1.000.000 – 3.000.000 đồng, Võ Thành T đặt cược tổng cộng 04 trận với số tiền cá cược là 1.000.000 – 3.000.000 đồng/trận; Võ Phương H đặt cược 01 trận với số tiền cá cược là 500.000 đồng và Nguyễn Minh H1 đặt cược 01 trận với số tiền cá cược là 1.000.000 đồng, nhưng bị cáo Hùng, Hướng đã bị kết án tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích; Nguyễn Văn H2 đặt cược 02 trận với số tiền cá cược từ 500.000 - 1.000.000 đồng/trận, Diệp Nhị Tuấn A đặt cược 01 trận với số tiền cá cược là 1.000.000 đồng/trận, Lâm Hữu T đặt cược tổng cộng 03 trận với số tiền cá cược là 1.000.000 đồng/trận nhưng số tiền các bị cáo mang theo sử dụng vào mục đích đánh bạc trên 5.000.000 đồng thì bị bắt quả tang. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai, lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt quả tang, với những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận các bị cáo H2 Minh H, Lê Văn Q, Võ Phương H, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Văn H2, Lê Mộng L, Võ Thành T, Diệp Nhị Tuấn A và Lâm Hữu T phạm tội “Đánh bạc”. Bị cáo H2 Minh H làm cái đặt cược 07 trận với tổng số tiền các trận là 51.500.000 đồng nên pH chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Lê Văn Q, Võ Phương H, Nguyễn Minh H1, Nguyễn Văn H2, Lê Mộng L, Võ Thành T, Diệp Nhị Tuấn A và Lâm Hữu T, mỗi bị cáo sử dụng tiền đánh bạc dưới 50.000.000 đồng nên chịu tình tiết định khung theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi của từng bị cáo: Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, mỗi bị cáo thực hiện hành vi với tính chất mức độ khác nhau nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo, cụ thể:
Bị cáo H làm cái đặt cược đá gà cho các bị cáo còn lại tham gia đặt cược trực tiếp với bị cáo, bị cáo làm cái 07 trận đá gà liên tiếp nhau với tổng số tiền đặt cược là 51.500.000 đồng nên bị cáo pH chịu tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, nên trong vụ án này, trách nhiệm hình sự mà bị cáo H pH chịu là cao nhất. Tuy nhiên, số tiền bị cáo mang theo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 20.000.000 đồng, quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trong thời gian sinh sống tại địa phương bị cáo tích cực đóng góp, ủng hộ trong việc xây dựng công trình nông thôn, bị cáo không có tiền án, tiền sự nên căn cứ khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ đảm bảo tính răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Các bị cáo Q, L, A, H, T, H, H1, Tài trực tiếp đặt cược đá gà với H. Trong đó, bị cáo Q đặt cược tổng cộng 06 trận, mỗi trận với số tiền từ 3.000.000 đồng – 10.000.000 đồng nên bị cáo phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo L sử dụng tiền đánh bạc là 15.000.000 đồng đặt cược 03 trận trong đó có 01 trận với số tiền là 3.000.000 đồng, bị cáo A sử dụng số tiền 14.870.000 đồng đặt cược 01 trận với số tiền 1.000.000 đồng, bị cáo H2 sử dụng số tiền 10.400.000 đồng đặt cược 02 trận với số tiền 500.000 đồng – 1.000.000 đồng/trận và bị cáo T sử dụng số tiền 8.000.000 đồng đặt cược 03 trận, mỗi trận 1.000.000 đồng, nên bị cáo L, A phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H2, bị cáo T1. Bị cáo H sử dụng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nhưng có tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa, bị cáo T sử dụng số tiền 2.390.000 đồng để đặt cược 03 trận trong đó có 01 trận với số tiền 3.000.000 đồng, do đó bị cáo H, T phải chịu mức hình phạt ngang nhau và thấp hơn bị cáo H2, T. Xét thấy, các bị cáo Q, L, A, H2, T, H, T phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Riêng bị cáo H1 sử dụng số tiền đánh bạc là 3.300.000 đồng, bị cáo đặt cược 01 trận với số tiền 500.000 đồng, chưa có kết quả thì bị bắt quả tang. Xét thấy, bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách của 02 năm tù cho hưởng án treo nhưng bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo không có khả năng tự cải tạo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian ngắn và tổng hợp hình phạt bị cáo phải chấp hành của Bản án đang chấp hành án treo cũng đủ sức răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Q tham gia đặt cược tổng cộng 06 trận, thì có 02 trận gà trở lên xác định số tiền cá cược từng trận trên 5.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ:
Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo Q, H2, L, T, A phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo L, T, H, T có thân nhân là người có công nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cụ thể: Bị cáo L có ông, bà ngoại được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, bị cáo T có ba mẹ ruột được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng, bị cáo H có mẹ ruột được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, bị cáo Tài có bà ngoại được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất.
Các bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận nên cần phạt bổ sung các bị cáo một số tiền nhất định để sung ngân sách Nhà nước.
Biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước tiền, điện thoại các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, tiền thu lợi bất chính từ việc đánh bạc.
Tài sản, tiền bị thu giữ nhưng không liên quan đến tội phạm cần tuyên trả cho các bị cáo.
Đối tượng Nguyễn Thành L sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đặt cược 05 trận, mỗi trận 500.000 đồng nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Công an Huyện Dương Minh Châu xử phạt hành chính là có căn cứ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh H phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh H 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 26-6-2022 đến ngày 13-8-2022.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Lê Văn Q 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.
Bị cáo được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ là 09 ngày bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ, bị cáo còn pH chấp hành 01 năm 11 tháng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Lê Văn Q cho Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lê Mộng L phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Lê Mộng L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Lê Mộng L cho Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.
4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Diệp Nhị Tuấn A phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Diệp Nhị Tuấn A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Diệp Nhị Tuấn A cho Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.
5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H2 phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H2 cho Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.
6. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lâm Hữu T phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Lâm Hữu T 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Lâm Hữu T cho Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.
7. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H1 phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H1 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Nguyễn Minh H1 cho Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.
8. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Võ Phương H phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Võ Phương H 03 (ba) tháng tù.
Căn cứ khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Võ Phương H pH chấp hành hình phạt tù của Bản án số 62/2019/HS-PT ngày 15-5-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh là 02 năm tù.
Căn cứ khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung bị cáo Võ Phương H phải chấp hành là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
9. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Võ Thành T phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Võ Thành T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Võ Thành T cho Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án Hình sự.
10. Hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Phạt bổ sung các bị cáo Hoàng Minh H số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn Q, Lê Mộng L, Diệp Nhị Tuấn A, Nguyễn Văn H2, Lâm Hữu T, Nguyễn Minh H1, Võ Phương H, Võ Thành T mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.
11. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
11.1. Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
- Tịch thu của Hoàng Minh H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, loại Note 11S, màu xanh – đen, không kiểm tra được số IMEI. (đã qua sử dụng)
- Tịch thu của Lê Mộng L: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A51, màu xanh – đen, số IMEI 1: 353680115024830, số IMEI 2: 353681115024838. (đã qua sử dụng)
- Tịch thu của Nguyễn Thành Lợi 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, Loại Galaxy A03, màu đen, số IMEI 1: 353976317969487, số IMEI 2: 354550377969486. (đã qua sử dụng)
11.2. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- Tịch thu của Hoàng Minh H số tiền 26.400.000 đồng
- Tịch thu của Lê Văn Q số tiền 1.300.000 đồng;
- Tịch thu của Võ Phương H số tiền 3.300.000 đồng;
- Tịch thu của Nguyễn Minh H1 số tiền 3.960.000 đồng;
- Tịch thu của Nguyễn Văn H2 số tiền 10.800.000 đồng;
- Tịch thu của Lê Mộng L số tiền 10.900.000 đồng;
- Tịch thu của Võ Thành T số tiền 5.290.000 đồng;
- Tịch thu của Diệp Nhị Tuấn A số tiền 14.870.000 đồng;
- Tịch thu của Lâm Hữu T số tiền 7.900.000 đồng;
11.3. Trả cho các bị cáo tiền không sử dụng vào việc đánh bạc
- Trả cho Hoàng Minh H số tiền 31.500.000 đồng;
- Trả cho Nguyễn Minh H1 số tiền 10.000.000 đồng;
- Trả cho bị cáo Lâm Hữu T số tiền 20.950.000 đồng;
11.4. Buộc bị cáo nộp tiền sung vào Ngân sách Nhà nước:
Buộc bị cáo Lê Văn Q nộp 100.000 đồng.
(Vật chứng, tiền hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án).
11.5. Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên:
- Lệnh kê biên số 20/LKB-CSĐT ngày 28-9-2022: Kê biên tài sản của bị cáo Võ Phương H thửa đất số 424, tờ bản đồ số 23, diện tích 1.041,6m2, tọa lạc tại xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02318 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp ngày 26-10-2017 cho bị cáo Võ Phương H đứng tên.
- Lệnh kê biên số 21/LKB-CSĐT ngày 28-9-2022: Kê biên tài sản của bị cáo Nguyễn Minh H1 thửa đất số 665, tờ bản đồ số 22, diện tích 908,3m2, tọa lạc tại xã X, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07432 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp ngày 17-6-2022 cho Nguyễn Minh H1 và chị Lê Thị Kim D đứng tên.
12. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội.
Các bị cáo Hoàng Minh H, Lê Văn Q, Lê Mộng L, Diệp Nhị Tuấn A, Nguyễn Văn H2, Lâm Hữu T, Nguyễn Minh H1, Võ Phương H, Võ Thành T mỗi bị cáo pH chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
13. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
14. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - Sở Tư pháp; - VKSND H.DMC; - CQĐT CA H.DMC; - Nhà tạm giữ CA H.DMC; - Chi cục THADS H.DMC; - PV06 – Công an tỉnh TN; - Vụ Giám đốc kiểm tra I; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Thơ |