vanban.org

Bản án 17/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Tiến P. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Lam A, sinh ngày 12/07/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T - Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến P"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 02 - 2023.
V/v: “T/c ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy Mạnh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài và ông Đặng Quang Hoạch.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Kiều – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 1091/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984. Cư trú tại: Tổ 3a, khu phố 05, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tiến P, sinh năm 1973. HKTT: A7P5, phường VM, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định. Hiện cư trú tại: Tổ 3a, khu phố 05, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T đề nghị xét xử vắng mặt, anh P vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/10/2022 và trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn Chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Tiến P tự nguyện chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai vào năm 2018. Sau khi kết hôn, anh chị về cư trú cùng nhà với mẹ đẻ của chị T là bà Nguyễn Thị T1 tại tổ 3a, khu phố 5, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.

Trong cuộc sống vợ chồng, chị và anh P thường xuyên xảy ra cãi vã, mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, anh P hay ghen tuông vô cớ với chị, nghi ngờ chị và yêu cầu phải cho con đi xét nghiệm ADN. Từ việc làm như vậy khiến chị T bị tổn thương tinh thần nghiêm trọng, bị stress không thể chung sống vợ chồng cùng với anh P được nữa. Gần đây, anh P hay đi nhậu rồi về quậy phá, đập đồ đạc. Khoảng 02 tháng nay, anh P không đưa tiền cho chị T sinh hoạt gia đình, nuôi con. Nay, chị T xác định tình cảm của chị dành cho anh P không còn nữa nên đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải mà giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.

Về con chung: Chị T trình bày, chị và anh P có 01 con chung là Nguyễn Lam A, sinh ngày 12/07/2019. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, tạm thời không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng tiền cho chị T nuôi con chung.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Chị T cam kết vợ chồng không có nợ chung.

* Trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử anh Nguyễn Tiến P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng nhưng anh P vẫn không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên tòa, vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng;

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Tiến P. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Lam A, sinh ngày 12/07/2019; tạm thời chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền cho chị T nuôi con chung. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung khai không có; bị đơn không có tranh chấp và không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết. Buộc nguyên đơn phải nộp án phí DSST về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng dân sự:

Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tiến P hiện đang cư trú tại Tổ 3a, khu phố 05, thị trấn TB, huyện TB, tỉnh Đồng Nai và tranh chấp ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Chị Nguyễn Thị T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Tiến P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án:

2.1. Về yêu cầu xin ly hôn:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Tiến P là hôn nhân hợp pháp, vì họ kết hôn tự nguyện, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn quy định tại Điều 5, Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.

Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã kêu gọi chị Nguyễn Thị T đoàn tụ với anh Nguyễn Tiến P nhưng chị T vẫn cương quyết ly hôn vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay chị không còn tình cảm yêu thương dành cho anh P nữa.

Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Tiến P đến Tòa án để làm việc, vận động hàn gắn đoàn tụ giữa chị T, anh P nhưng anh P không chấp hành, cố tình vắng mặt mà không có lý do chính đáng, chứng tỏ anh P cũng không có thiện chí hàn gắn quan hệ hôn nhân của anh chị.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Tiến P đã xảy ra trong thời gian dài, đã trầm trọng, giữa họ không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến nhau, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Tiến P.

2.2. Về con chung:

Chị Nguyễn Thị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Lam A, sinh ngày 12/07/2019. Anh Nguyễn Tiến P không có tranh chấp về việc ai là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Hiện tại, cháu Nguyễn Lam A đang ở cùng với chị Tiến. Do đó, tiếp tục giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Lam A là đảm bảo việc phát triển toàn diện cho con và phù hợp với quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị T tạm thời không yêu cầu anh Nguyễn Tiến P phải cấp dưỡng tiền cho chị T nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2.3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Tiến P không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2.4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị T trình bày không có, anh Nguyễn Tiến P không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Nguyễn Thị T phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Tiến P.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Lam A, sinh ngày 12/07/2019.

Tạm thời, chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Nguyễn Tiến P phải cấp dưỡng tiền cho chị T nuôi con chung.

Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của anh Nguyễn Tiến P.

Vì quyền lợi của con, khi điều kiện thay đổi các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001912 ngày 01/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ