- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức đánh bạc và đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Thạch Thị VK phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” .
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2022/HS - ST Ngày: 24 - 02 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Văn Út
2. Ông Nguyễn Văn Đấu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa: Ông Cao Minh Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2021/TLST - HS, ngày 26 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST – HS, ngày 09 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:
Bị cáo: Thạch Thị VK, sinh năm 1972 (Có mặt).
Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn lớp 02/12; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Y, sinh năm 1927 (đã chết) và bà Sơn Thị H, sinh năm 1942 (đã chết); anh chị em ruột: có 06 người lớn nhất sinh năm 1953, nhỏ nhất sinh năm 1980; Chồng: Trương Thành T, Sinh năm 1969 (đã chết); con có 02 người, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 08 tháng 7 năm 2021 đến ngày 11 tháng 7 năm 2021 chuyển tạm giam cho đến nay.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Thạch Thị Ngọc Th, sinh năm 1982 (Vắng mặt, có đơn)
2. Bà Sơn Thị Mỹ H, sinh năm 1987 (Vắng mặt, có đơn)
3. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1961 (Vắng mặt, có đơn)
4. Bà Thạch Thị Th, sinh năm 1959 (Vắng mặt, có đơn)
5. Bà Thạch Thị SĐ, sinh năm 1976 (Vắng mặt, có đơn)
6. Bà Phan Thị Th1, sinh năm 1976 (Có mặt)
7. Ông Thạch S, sinh năm 1959 (Vắng mặt, có đơn)
8. Bà Thạch Thị Ngọc X, sinh năm 1978 (Vắng mặt, có đơn)
9. Ông Thạch Hoàng A, sinh năm 1983 (Vắng mặt, có đơn)
10. Ông Kiên PL, sinh năm 1982 (Vắng mặt, có đơn)
11. Ông Thạch Chanh SR, sinh năm 1989 (Vắng mặt, có đơn)
12. Bà Diệp Thanh V, sinh năm 1966 (Vắng mặt, có đơn)
13. Bà Sơn Thị NT, sinh năm 1979 (Vắng mặt, có đơn)
14. Bà Thạch Thị Hoàng L, sinh năm 1985 (Có mặt)
Đồng nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Trà Vinh.
15. Ông Phạm Văn G, sinh năm 1974 (Có mặt)
16. Ông Thạch Ch, sinh năm 1964 (Vắng mặt, có đơn)
17. Bà Kim Thị BT, sinh năm 1992 (Vắng mặt, có đơn)
18. Ông Thạch SR1, sinh năm 1960 (Vắng mặt, có đơn)
19. Bà Thạch Ngọc D1, sinh năm 1998 (Vắng mặt, có đơn)
20. Bà Kim Thị Thanh Ph, sinh năm 1981 (Vắng mặt, có đơn)
21. Ông Thạch L1, sinh năm 1983 (Vắng mặt, có đơn)
22. Bà Kim Thị Vương H1, sinh năm 1990 (Vắng mặt, do bỏ địa phương)
23. Bà Thạch Thị Mỹ H1, sinh năm 1980 (Vắng mặt, do bỏ địa phương)
24. Bà Sơn Thị Sa R, sinh năm 1958 (Vắng mặt, có đơn)
25. Bà Kim Thị LC, sinh năm 1969 (Vắng mặt, có đơn)
Nơi cư trú: ấp G, xã P, huyện L, tỉnh Trà Vinh.
26. Ông Thạch S2, sinh năm 1980 (Vắng mặt, có đơn)
27. Ông Thạch S3, sinh năm 1952 (Vắng mặt, có đơn)
28. Bà Thạch Thị Sa V1, sinh năm 1968 (Vắng mặt, có đơn)
29. Bà Thạch Ngọc T2, sinh năm 1989 (Vắng mặt, có đơn)
30. Bà Thạch Thị Thúy T1, sinh năm 1964 (Vắng mặt, do bệnh nặng, hôn mê, không còn nhận thức và giao tiếp được)
31. Ông Sơn S4, sinh năm 1952 (Vắng mặt, do bỏ địa phương)
32. Bà Thạch Thị SR1, sinh năm 1954 (Vắng mặt, có đơn)
33. Bà Thạch Thị H2, sinh năm 1976 (Vắng mặt, do bỏ địa phương)
34. Ông Đặng Hoàng N1, sinh năm 1980 (Vắng mặt, do đang bị tạm giam)
35. Bà Kim Thị SM, sinh năm 1962 (Vắng mặt, có đơn)
36. Ông Bà Thạch Sóc SR2, sinh năm 1989 (Vắng mặt, có đơn)
Đồng nơi cư trú: ấp S, xã P, huyện L, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
2
Vào khoảng 17 giờ 15 phút ngày 08 tháng 7 năm 2021, nhận được tin báo của nhân dân tại nhà bị cáo Thạch Thị VK đang ghi biên số lô, số đề bán cho nhiều người. Tiếp nhận tin báo, đến 18 giờ 15 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L kết hợp Công an xã P tiến hành kiểm tra địa điểm trên phát hiện, bắt quả tang bị cáo và bà Thạch Thị Ngọc Th đang có hành vi ghi biên số lô, số đề tại phòng ngủ của bị cáo.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận: Để thu lợi bất chính kiếm thêm nguồn thu nhập từ việc ghi bán số đề, ngày 08 tháng 7 năm 2021 bị cáo ghi bán số đề cho nhiều người tại nhà riêng của mình các đài xổ số kiến thiết miền Nam, gồm đài Tây Ninh, An Giang, Bình Thuận và xổ số kiến thiết miền Bắc. Đối với các đài xổ số kiến thiết miền Nam, bị cáo ghi số đến 16 giờ thì không nhận ghi nữa, đối với đài xổ số kiến thiết miền Bắc đến 18 giờ thì kết thúc việc ghi số. Vào thời điểm bị bắt quả tang, các đài xổ sổ kiến thiết miền Nam đã có kết quả xổ số, riêng đài xổ số kiến thiết miền Bắc chưa có kết quả. Việc ghi bán số đề, bị cáo thắng thua trực tiếp với người chơi, không qua trung gian hay ghi biên cho người khác.
Qua kết quả kiểm tra máy điện thoại di động, cộng phơi và đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết và làm việc với bị cáo, xác định trong ngày 08 tháng 7 năm 2021, bị cáo ghi biên số lô, số đề bán cho nhiều người mua số, với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 5.028.000 đồng và đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 20.914.500 đồng, gồm: tiền ghi số là 13.914.500 đồng và tiền trúng thưởng là 7.000. 000 đồng, đều có thể hiện tin nhắn điện thoại di động, 15 tờ phơi và được thu giữ khi bắt quả tang. Số tiền đánh bạc trên, bị cáo ghi bán cho nhiều người cụ thể như sau:
1. Thạch Thị Ngọc Th với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 1.079.000 đồng (tờ phơi số 2) và ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 4.960.500 đồng; gồm tiền ghi số là: 4.310.500 đồng và tiền trúng thưởng là: 650.000 đồng (tờ phơi số 3, 4 và 10).
2. Sơn Thị Mỹ H với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 909.000 đồng (tờ phơi số 5).
3. Nguyễn Thị H1 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 306.000 đồng (2 số ở tờ phơi số 14).
4. Thạch Thị Th với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 1.014.000 đồng (tin nhắn) và ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 4.162.000 đồng, gồm: tiền ghi số là: 3.462.000 đồng và tiền trúng thưởng là: 700.000 đồng;.
5. Thạch Thị SĐ với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 4.346.500 đồng, gồm: tiền ghi số là: 2.621.500 đồng và tiền trúng thưởng là: 2.450.000 đồng (tờ phơi số 9, 11, 12 và 15).
6. Phan Thị Th1 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 2.088.000 đồng; gồm: tiền ghi số là 288.000 đồng và tiền trúng thưởng 1.800.000 đồng (01 số ở tờ phơi số 14 và 01 số ở tờ phơi 1).
3
7. Phạm Văn G với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 810.000 đồng (01 số ở tờ phơi số 1).
Ngoài ra, bị cáo còn ghi số đề bán cho nhiều người không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể, với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 445.000 đồng (tờ phơi số 8 và một phần tờ phơi số 1) và ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 3.417.500 đồng, gồm: tiền ghi số là: 2.017.500 đồng và tiền trúng thưởng là: 1.400.000 đồng (tờ phơi số 6, 7, 13 và một phần tờ phơi số 01).
Kết quả điều tra: Thạch Thị Ngọc Th, Sơn Thị Mỹ H, Nguyễn Thị H1, Thạch Thị Th thừa nhận đánh bạc với bị cáo. Tuy nhiên, Phạm Văn G, Phan Thị Th1, Thạch Thị SĐ không thừa nhận hành vi đánh bạc với Thạch Thị VK.
Đối với số tiền đánh bạc với bị cáo như trên, Thạch Thị Ngọc Th, Sơn Thị Mỹ H và Thạch Thị Th khai nhận vừa sử dụng tiền cá nhân mua số vừa ghi số đề bán cho nhiều người rồi chuyển hết phơi cho bị cáo để hưởng tiền huê hồng là 02 % trên tổng số tiền chuyển phơi cụ thể:
- Thạch Thị Ngọc Th sử dụng tiền cá nhân mua số ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 333.000 đồng, còn lại số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là 1.133.000 đồng và ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 4.627.5000 đồng, gồm: tiền ghi số là: 3.977.500 đồng và tiền trúng thưởng là: 650.000 đồng thì Thạch Thị Ngọc Th ghi bán cho nhiều người cụ thể như sau:
1. Thạch S2 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 405.000 đồng và ở đài xổ số kiến thiết kiến thiết miền Nam là: 530.000 đồng (tiền mua số là:180.000 đồng, tiền trúng thưởng là: 350.000 đồng).
2. Thạch S3 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 138.000 đồng và ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 363.00 đồng (tiền mua số là: 63.000 đồng, tiền trúng thưởng là: 300.000 đồng).
3. Thạch Ch (Thạch Thị Hoàng L mua dùm), với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 162.000 đồng và ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 375.000 đồng.
4. Kim Thị SM với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 50.000 đồng và ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 349.000 đồng.
5. Thạch S với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 81. 000 đồng và ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 693.000 đồng.
6. Kim Thị BT với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 27.000 đồng và ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 120.000 đồng.
7. Thạch Thị Sa V1 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 38.000 đồng.
8. Thạch Thị Ngọc X với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 137.000 đồng.
4
9. Thạch SR1 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 187.5000 đồng.
10. Thạch Ngọc D1 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 24.000 đồng.
11. Thạch Hoàng A với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 120.000 đồng.
12. Thạch Ngọc T2 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 48.000 đồng.
13. Thạch Thị Thúy T1 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 36.000 đồng.
14. Sơn S4 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 165.000 đồng.
15. Thạch Thị SR1 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 36.000 đồng.
16. Thạch Thị H2 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 37.500 đồng.
17. Kim Thị Thanh Ph với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 37.500 đồng.
18. Thạch L1 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 112.500 đồng.
19. Đặng Hoàng N1 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 270.000 đồng.
20. Kiên PL với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 225.000 đồng.
21. Thạch Chanh SR với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 192.500 đồng.
22. Kim Thị Vương H với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 216.000 đồng và ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 414.000 đồng.
Ngoài ra, Thạch Thị Ngọc Th còn ghi bán cho nhiều người không xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể, với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 54.000 đồng và ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 117.000 đồng.
Kết quả làm việc: Thạch S2, Thạch S3, Thạch Ch, Kim Thị SM, Thạch S, Kim Thị BT, Thạch Thị Sa V1, Thạch Thị Ngọc X, Thạch SR1, Thạch Ngọc D1, Thạch Hoàng A, Thạch Ngọc T2, Thạch Thị Thúy T1, Sơn S4, Thạch Thị SR1, Thạch Thị H2, Kim Thị Thanh Ph, Thạch L1, Đặng Hoàng N1, Kiên PL, Thạch Chanh SR, Kim Thị Vương H thừa nhận mua các số lô, số đề do Thạch Thị Ngọc Th ghi bán như trên. Riêng người mua số mà Thạch Thị Ngọc Th trình bày không
5
rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể; chỉ duy nhất lời trình bày của Thạch Thị Ngọc Th ngoài ra không còn tài liệu chứng cứ khác nên Cơ quan điều tra không xác định được.
- Thạch Thị Th sử dụng tiền cá nhân mua số ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 690.000 đồng, ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 1.135.000 đồng (tiền mua số 435.000 đồng, tiền trúng thưởng 700.000 đồng), còn lại số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 3.027.000 đồng và xổ số kiến thiết miền Bắc là: 324.000 đồng; Thạch Thị Th ghi bán cho nhiều người cụ thể như sau:
1. Diệp Thanh V với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 240.000 đồng.
2. Thạch Thị Mỹ H1 với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 90.000 đồng.
3. Sơn Thị Sa R với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 50.000 đồng và ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 81.000 đồng.
4. Sơn Thị NT với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 240.000 đồng.
5. Kim Thị LC với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 108.000 đồng.
Ngoài ra, Thạch Thị Th còn ghi bán cho nhiều người không xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể, với số tiền đánh bạc ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 2.407.000 đồng và ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc là: 135.000 đồng.
Kết quả làm việc: Thạch Thị Mỹ H1, Sơn Thị Sa R, Sơn Thị NT, Kim Thị LC thừa nhận mua các số lô, số đề do Thạch Thị Th bán. Diệp Thanh V không thừa nhận mua các số lô số đề do Thạch Thị Th ghi bán. Riêng người mua số mà Thạch Thị Th trình bày không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể; chỉ duy nhất lời trình bày của Thạch Thị Th ngoài ra không còn tài liệu chứng cứ khác nên Cơ quan điều tra không xác định được.
- Sơn Thị Mỹ H sử dụng tiền cá nhân mua số ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là: 647.500 đồng; còn lại số tiền đánh bạc 261.500 đồng ở đài xổ số kiến thiết miền Nam, Sơn Thị Mỹ H ghi bán cho những người sau đây.
1. Kim Thị SM với số tiền đánh bạc là: 147.000 đồng.
2. Thạch Ngọc T2 với số tiền đánh bạc là: 18.000 đồng.
3. Thạch Sóc SR2 với số tiền đánh bạc là: 55.500 đồng.
Ngoài ra, Sơn Thị Hường còn ghi bán cho người khác không xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể, với số tiền đánh bạc là: 41.000 đồng.
Kết quả làm việc: Kim Thị SM, Thạch Ngọc T2, Thạch Sóc SR2 thừa nhận mua các số lô, số đề do Sơn Thị Hường ghi bán như trên. Riêng người mua số mà Sơn Thị Mỹ H trình bày không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể; chỉ duy nhất lời trình
6
bày của Sơn Thị Mỹ H ngoài ra không còn tài liệu chứng cứ khác nên Cơ quan điều tra không xác định được người đánh bạc.
Việc đánh bạc giữa bị cáo với những người mua số nói trên được thực hiện như sau: do người mua trực tiếp đến nhà bị cáo đưa tờ phơi do người mua ghi sẵn hoặc đọc những con số, số tiền, đài xổ số để bị cáo ghi vào tờ giấy, tính tiền và nhận tiền ghi số hoặc người mua gửi tin nhắn hay điện thoại vào số thuê bao 0927730432 của bị cáo để mua số đề. Sau đó, bị cáo ghi tổng hợp lại các con số đề đã bán trong ngày vào tờ giấy để đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết rồi tính tiền, kể cả tiền chuyển phơi với người mua và việc thanh toán tiền đánh bạc bằng hình thức người mua đến nhà của bị cáo thanh toán.
Hình thức được thua giữa bị cáo với người mua là: căn cứ vào kết quả các đài xổ số kiến thiết trong ngày để xác định con số đã ghi bán có trúng hay không, trường hợp ghi số đầu, số đuôi và bao lô con số có hai chữ số nếu trúng 1.000 đồng thì lãnh được 70.000 đồng, trường hợp bao lô con số có ba chữ số và số đá có hai cặp số nếu trúng 1.000 đồng lãnh được 600.000 đồng, số đá ba cặp số nếu trúng 1.000 đồng thì lãnh thưởng được 1.800.000 đồng và bao lô con số có bốn chữ số nếu trúng 1.000 đồng thì lãnh được 5.000.000 đồng. Bị cáo ghi biên số đề bán cho người khác từ khoảng tháng 12 năm 2020 đến ngày bị bắt. Bị cáo đều giữ lại trực tiếp được thua với người mua, không chuyển phơi cho bất cứ ai khác. Mỗi ngày bị cáo ghi số đề bán cho ít nhất là 10 người cao nhất 20 người, với số tiền thấp nhất khoảng 3.000.000 đồng, cao nhất khoảng 20.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định chữ viết (chữ số) trên 15 tờ phơi được đánh số thứ tự: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15 được thu giữ trong lúc bắt quả tang bị cáo với 03 tờ tường trình do bị cáo viết tại cơ quan điều tra. Tại bản kết luận giám định số: 489/KLGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận:
- Chữ viết (chữ số) trên các tài liệu cần giám định là các tờ phơi được đánh số 1, 5, 6, 7, 9, 11, 12, 14, 15 được thu giữ trong lúc bắt quả tang bị cáo so với chữ viết (chữ số) trên các tài liệu mẫu so sánh là 03 tờ tường trình do bị cáo viết tại cơ quan điều tra: do cùng một người viết ra;
- Chữ viết (chữ số) trên các tài liệu cần giám định là các tờ phơi được đánh số 2, 3, 4, 8, 10, 13 được thu giữ trong lúc bắt quả tang bị cáo so với chữ viết (chữ số) trên các tài liệu mẫu so sánh là 03 tờ tường trình do bị cáoviết tại cơ quan điều tra: Không do cùng một người viết ra.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc trái phép.
Tại bản cáo trạng số: 75/CT –VKS – HS, ngày 24 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố bị cáo Thạch Thị VK về tội tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 và tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại
7
điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo hoàn toàn thống nhất với nội dung bản cáo trạng của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện L, và thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 08/7/2021 tại ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Thạch Thị VK đã có hành vi “Tổ chức đánh bạc” dưới hình thức ghi biên số lô số đề bán cho trên 10 người đánh bạc cùng một lúc cụ thể là tổ chức cho Thạch Thị Th, Sơn Thị Mỹ H, Thạch Thị Ngọc Th ghi biên số đề bán cho 29 người cùng một số người không xác định nhân thân, địa chỉ cụ thể ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là 20.914.5000 đồng (tiền ghi số là: 13.914.500 đồng và tiền trúng thưởng là: 7.000.000 đồng) và “Đánh bạc” trực tiếp với nhiều người số tiền là: 5.028.000 đồng ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc.
Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Trà Vinh: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù về tội đánh bạc và 3 (Ba) năm đến 3 (Ba) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội tổ chức đánh bạc. Tổng hợp hình phạt cho bị cáo từ 4 (Bốn) đến 5 (Năm) năm tù. Căn cứ khoản 3 Điều 322 xử phạt bổ sung bị cáo từ 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước. Ngoài ra, vị còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo Thạch Thị VK hành vi phạm tội của bị cáo là vi phạm pháp luật, thời gian tạm giam bị cáo đã ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
8
đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kim Thị Vương H1, bà Thạch Thị Mỹ H1, ông Sơn S4, bà Thạch Thị H2 vắng mặt do bỏ đi khỏi địa phương; Ông Đặng Hoàng N1 vắng mặt do đang bị tạm giam và bà Thạch Thị Thúy T1 vắng mặt, do bệnh nặng, hôn mê, không còn nhận thức và giao tiếp được. Tại phiên Tòa vị đại diện viện kiểm sát, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vì việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Lời nhận tội của các bị cáo Thạch Thị VK tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và của bị cáo tại Cơ quan điều tra, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập được. Do vậy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện L quyết định truy tố bị cáo: Thạch Thị VK về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 và tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự là phù hợp với qui định của pháp luật, không oan, không sai.
[4]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bởi vì, việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc trái pháp luật bị Nhà nước nghiêm cấm, được quy định trong Bộ luật hình sự. Bị cáo là người đã trưởng thành có đủ nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật; Bị cáo có sức khỏe để lao động tạo ra nguồn thu nhập phục cho bản thân và gia đình, nhưng không lo chí thú làm ăn, chỉ vì muốn thu lợi bất chính, vì thế luôn tìm mọi cách để che giấu hành vi phạm tội đối với các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương và các cơ quan thực thi pháp luật, nhằm thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể; Vào ngày 08/7/2021 bị cáo đã có hành vi “Tổ chức đánh bạc” dưới hình thức là tổ chức cho Thạch Thị Th, Sơn Thị Mỹ H, Thạch Thị Ngọc Th ghi biên số đề bán cho 29 người cùng một số người không xác định nhân thân, địa chỉ cụ thể ở đài xổ số kiến thiết miền Nam là 20.914.5000 đồng (tiền ghi số là: 13.914.500
9
đồng và tiền trúng thưởng là: 7.000.000 đồng) và “Đánh bạc” trực tiếp với nhiều người số tiền là: 5.028.000 đồng ở đài xổ số kiến thiết miền Bắc.
[5]. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, bị cáo là người đứng ra tổ chức cho Thạch Thị Th, Sơn Thị Mỹ H, Thạch Thị Ngọc Th ghi biên số đề bán cho những con bạc và bị cáo đứng ra đánh bạc cùng với các con bạc. Vào ngày 16 tháng 8 năm 2016, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện L xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về tội đánh bạc dưới hình thức ghi biên số lô, số đề (đã chấp hành xong) lẽ ra bị cáo phải nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, phải biết tu dưỡng bản thân và không tiếp tục thực hiện. Tuy nhiên, bị cáo lại tiếp tục thực hiện việc phạm tội, điều này thể hiện ý thức của các bị cáo rất xem thường pháp luật.
[6]. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra, bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc của bị cáo gây bức xúc trong nhân dân, đã tạo ra dư luận, sự hoài nghi của nhân dân đối với chính quyền các cấp và cơ quan bảo vệ pháp luật về lĩnh vực an ninh trật tự tại địa phương. Đánh bạc và tổ chức đánh bạc trái pháp luật được thua bằng tiền là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân của sự đói nghèo, dẫn đến nhiều loại tội phạm khác ngoài xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Từ việc tham gia đánh bạc mà nhiều con bạc đã lâm vào cảnh nợ nần, kinh tế khó khăn, gia đình phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tan vỡ hạnh phúc và hơn thế nữa, đánh bạc là nguyên nhân tạo nên gánh nặng cho xã hội, và gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Nhằm góp phần đấu tranh, ngăn ngừa những tệ nạn xã hội, Hội đồng xét xử phải xử phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và tính chất của vụ án.
[7]. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế, bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng đây là những căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự.
[8]. Do đó ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9]. Số tiền đánh bạc của các đối tượng Thạch Thị Ngọc Th, Sơn Thị Mỹ H và Thạch Thị Th dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, gá bạc hay tổ chức đánh bạc, chưa bị kết án về tội đánh bạc, gá bạc hay tổ chức đánh bạc. Hành vi trên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi
10
đánh bạc trái phép. Đối với Nguyễn Thị H1, Thạch S2, Thạch S3, Thạch Ch, Kim Thị SM, Thạch S, Kim Thị BT, Thạch Thị Sa V1, Thạch Thị Ngọc X, Thạch SR1, Thạch Ngọc D1, Thạch Hoàng A, Thạch Ngọc T2, Thạch Thị Thúy T1, Sơn S4, Thạch Thị SR1, Thạch Thị H2, Kim Thị Thanh Ph, Thạch L1, Đặng Hoàng N1, Kiên PL, Thạch Chanh SR, Kim Thị Vương H, Thạch Thị Mỹ H1, Sơn Thị Sa R, Sơn Thị NT, Kim Thị LC, Thạch Sóc SR2: đã thực hiện hành vi vi phạm mua các số lô, số đề với số tiền đánh bạc của mỗi người dưới 5.000.000 đồng, chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, gá bạc hay tổ chức đánh bạc, chưa bị kết án về tội đánh bạc, gá bạc hay tổ chức đánh bạc. Hành vi trên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đanh bạc trái phép.
[10]. Riêng Sơn Thị NT hiện không có mặt địa phương và Thạch Thị Thúy T1 đang bị bệnh nặng (hôn mê, không còn nhận thức và giao tiếp được) cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi làm việc được sẻ xử lý sau. Đối với Phạm Văn G, Phan Thị Th1, Thạch Thị SĐ không thừa nhận mua các số lô, số đề do bị cáo Thạch Thị VK bán; Diệp Thanh V không thừa nhận mua các số lô, số đề do Thạch Thị Th ghi bán, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L chưa đủ cơ sở xử lý các đối tượng trên.
[11]. Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ:
- Tiền Việt Nam đồng: 15.228.000 đồng. Trong đó, 2.000.000 đồng là tiền riêng của bị cáo Thạch Thị VK, không dùng vào việc phạm tội nên giao trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục giao Cơ quan thi hành án quản lý để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án. Số tiền còn lại 13.228.000 đồng dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- 15 tờ giấy có ghi chữ và số, ghi ngày 8 tháng 7 năm 2021, có chữ ký xác nhận của Thạch Thị VK, được đánh số thứ tự từ 1 đến 15 nên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu xanh đen, số IMEL 1: 865073041142978, số IMEL 2: 865073 041 142 960, số thuê bao: 0927730432; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, số sêri 1: 356933113753398, số sêri 2: 356933113953394, số thuê bao: 0939174859; 01 máy điện thoại di động hiệu IPHONE, màu trắng số thuê bao: 0347523102; 01 máy tính Casio màu đen là tài sản liên quan đến việc phạm tôi nên tịch thu sung vào công quỹ nhà nước.
- 03 tờ giấy kết quả xổ sổ kiến thiết miền Nam ngày 05, 06, 07 tháng 7 năm 2021; 02 cây bút bi màu xanh; 02 cây bút bi màu đỏ; 02 cây bút bi màu tím; 01 cái bàn mặt bằng gỗ, chân bằng kim loại đã bị rỉ sét (đã qua sử dụng), kích thước
11
40cm x 60cm x 30cm; Một giá để điện thoại bằng nhựa màu đen (đã qua sử dụng) là những công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 máy điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, số sê ri 1: 359016091091031792, số sê ri 2: 359016091531791, sử dụng 01 sim số thuê bao 0353479569, đã qua sử dụng đây là tài sản riêng của bị cáo nên trả lại cho bị cáo;
[12]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: Thạch Thị VK phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” .
- Căn cứ Điều 268 và Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm a, c khoản 1, khoảng 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Thạch Thị VK 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội đánh bạc và 03 (Ba) năm tù về tội tổ chức đánh bạc. Tổng hợp hình phạt đối với bị cáo là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 08/7/2021.
- Căn cứ khoản 3 Điều 322 xử phạt bổ sung bị cáo Thạch Thị VK 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
2. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tiếp tục lưu trữ vào hồ sơ vụ án 15 tờ giấy có ghi chữ và số, ghi ngày 8 tháng 7 năm 2021, có chữ ký xác nhận của Thạch Thị VK, được đánh số thứ tự từ 1 đến 15.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà Nước gồm: Tiền Việt Nam đồng: 13.228.000 đồng (Mười ba triệu, hai trăm hai mươi tám nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu xanh đen, số IMEL 1: 865073041142978, số IMEL 2: 865073 041 142 960, số thuê bao: 0927730432; 01 máy điện thoại di động hiệu IPHONE, màu trắng số thuê bao: 0347523102; 01 máy tính Casio màu đen.
- Tịch thu tiêu hủy: 03 tờ giấy kết quả xổ sổ kiến thiết miền Nam ngày 05, 06, 07 tháng 7 năm 2021; 02 cây bút bi màu xanh; 02 cây bút bi màu đỏ; 02 cây bút bi màu tím; 01 cái bàn mặt bằng gỗ, chân bằng kim loại đã bị rỉ sét (đã qua sử dụng),
12
kích thước 40cm x 60cm x 30cm; Một giá để điện thoại bằng nhựa màu đen (đã qua sử dụng).
- Giao trả cho bị cáo Thạch Thị VK: 01 máy điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh, số sê ri 1: 359016091091031792, số sê ri 2: 359016091531791, sử dụng 01 sim số thuê bao 0353479569, đã qua sử dụng và tiền Việt Nam đồng: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhưng tiếp tục giao Cơ quan thi hành án huyện L quản lý để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo Thạch Thị VK phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày án sơ thẩm tuyên. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú.
(Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: VT; hồ sơ vụ án. 13 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nhật Thành |