- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn Q - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Văn Q về việc xin giảm nhẹ hình phạt; sửa một phần nội dung về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2020/HS-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2020/HS-PT Ngày 06-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vi Đức Trí;
Các Thẩm phán: Ông Chu Long Kiếm;
Bà Nguyễn Thị Hoa;
-Thư ký phiên toà:Ông Đặng Cao Cường - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà:Ông Tống Văn Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 19/2020/TLPT-HS, ngày 19 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo Đào Văn Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2020/HS-ST, ngày 14 tháng 01 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo: Đào Văn Q, sinh ngày 08 tháng 7 năm 1982 tại huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã N, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Văn T (tức Đào Xuân T); con bà: Nguyễn Thị T (tức Nguyễn Thị K); có vợ là Nguyễn Thị N và 02 con; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân:Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; Bản án số 26/2016/HSST, ngày 26/4/2016 xử phạt 05 (năm) tháng tù về tội Buôn lậu (đã được xóa); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Công an huyện Chi Lăng từ ngày 14/10/2019 đến ngày 02/12/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh; hiện tại ngoại, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đào Văn Q:Bà Lê Thị L - Luật sư Văn phòng Luật sư T, Đoàn luật sư tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10 tháng 10 năm 2019, Đào Văn Q sử dụng mạng xã hội Facebook nói chuyện với một người bạn tên D nhà ở Vĩnh Phúc (không biết họ, tuổi và địa chỉ cụ thể), Đào Văn Q quen năm 2014 khi cùng làm thuê tại thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Qua trao đổi được biết D đang làm thuê bên Trung Quốc, thường xuyên qua lại khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Đào Văn Q nảy sinh ý định mua pháo nổ về sử dụng dịp Tết Nguyên đán và bán lại kiếm lời. Đào Văn Q đặt vấn đề mua với D 06 giàn pháo loại 100 quả/giàn, 04 giàn pháo loại 36 quả/giàn, 06 quả pháo trứng loại to với tổng số tiền là 1.900.000 đồng, sau đó hẹn ngày 14/10/2019 sẽ đi xe ô tô khách từ tỉnh Vĩnh Phúc lên thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để lấy pháo và thanh toán tiền. Đến khoảng 07 giờ ngày 14/10/2019, Đào Văn Q từ nhà mang theo 01 Balo du lịch màu đỏ đen, lên xe ô tô khách biển kiểm soát 88B-010.69, lái xe là anh Ngô Mạnh H. Sau đó anh Ngô Mạnh H đưa cho Đào Văn Q một cuốn sổ ghi số điện thoại khách đặt xe và một điện thoại di động nhờ Đào Văn Q liên lạc với khách đặt đi xe. Khoảng 07 giờ 30 phút, D gọi điện gặp Đào Văn Q trao đổi giờ và địa điểm gặp nhau để giao nhận pháo. Khoảng 11 giờ 30 phút, Đào Văn Q xuống xe tại ngã ba T, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, sau đó gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn N lấy xe mô tô biển kiểm soát 88D1-303.87 cho Đào Văn Q mượn. Đào Văn Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88D1-303.87 đi đến dãy nhà thuê trọ ở khu vực T thuộc địa phận huyện V, tỉnh Lạng Sơn gặp D. D chỉ chỗ để pháo cho Đào Văn Q, Đào Văn Q đưa cho D số tiền 1.900.000 đồng rồi đi vào phía cuối dãy trọ để lấy pháo. Đào Văn Q thấy 01 Balo du lịch màu đen chứa pháo, 02 giàn pháo và 03 quả pháo trứng đề ở bên ngoài. Đào Văn Q lấy chiếc Balo du lịch màu đỏ đen đem theo, cho số pháo ở bên ngoài vào Balo rồi chở 02 Balo chứa pháo về để ở trước cửa phòng trọ của anh Nguyễn Văn N. Sau đó tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến một quán cháo thuộc thị trấn Đ, lấy 02 thùng bìa catton có chữ Liquan bên trong chứa pháo nổ D đã để sẵn, chở về phòng trọ của anh Nguyễn Văn N. Cất xe mô tô trước cửa phòng trọ, Đào Văn Q gọi một xe taxi đang đỗ gần đấy (không rõ biển kiểm soát) chở Đào Văn Q cùng toàn bộ số pháo nổ vừa lấy được đi đến bến xe thành phố L. Khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, Đào Văn Q đến đối diện cổng bến xe phía Bắc và gọi điện thoại cho anh Ngô Mạnh H lái xe ô tô khách biển kiểm soát 88B-010.69 qua đón Đào Văn Q cùng toàn bộ hành lý chứa pháo nổ về huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi xe ô tô khách đi đến địa phận huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Tổng trọng lượng số tang vật trên là 31,5 kilôgam pháo.
Tại bản Kết luận giám định số: 172/KL-PC09, ngày 15/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Mẫu vật thu giữ của Đào Văn Q, gửi giám định bên trong đều có chứa thuốc pháo, khi đốt đều gây ra tiếng nổ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2020/HS-ST, ngày 14 tháng 01 năm 2020của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đào Văn Q phạm tội Buôn bán hàng cấm. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Đào Văn Q 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2019 đến ngày 02/12/2019.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định.
Ngày 21/01/2020, bị cáo Đào Văn Q kháng cáo xin hưởng án treo.Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đào Văn Q xin thay đổi nội dungkháng cáo xin được giảm mức hình phạt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm xét xửbị cáo với tội danh Buôn bán hàng cấm là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày hôm nay,bị cáo đã xuất trình thêm tài liệu là Biên lai nộp tiền án phí sơ thẩm; bị cáo đã ủng hộ các hộ nghèo trong thôn trong việc chống dịch Covid-19 và trong thời gian bị cáo chờ xét xử phúc thẩm, bị cáoluôn chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, hương ước của khu dân cưđược chính quyền xã N, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc xác nhận. Đây là chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Vì vậy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355;Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử giảm mức hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Đào Văn Q với mức từ 18 đến 20 tháng tù.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Đào Văn Q: Về tội danh không tranh luận, tuy nhiên bị cáo tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo bị bệnh về cột sống, bị cáo không phải là người có nhân thân xấu vì lần phạm tội trước đó đã được xóa án tích. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã xuất trình thêm cho Hội đồng xét xử tài liệu chứng cứ mới là Biên lai nộp tiền án phí sơ thẩm; bị cáo Đào Văn Q đã ủng hộ các hộ nghèo trong thôn có hoàn cảnh khó khăn trong việc chống dịch Covid-19 được 3.000.000 đồng, trong thời gian tại ngoại bị cáo luôn chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước, hương ước của khu dân cư. Nênđề nghị Hội đồng xét xử giảm mức hình phạt cho bị cáo với mức thấp hơn mức mà Viện kiểm sát đề nghị.
Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của luật sư và xinHội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt với mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đào Văn Q thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân. Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử và xử phạt tù đối với bị cáoĐào Văn Q về tội Buôn bán hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Bị cáo không kháng cáo về phần tội danh, chỉ kháng cáo xin được giảm nhẹ mức hình phạt. Xét kháng cáo của bị cáo Đào Văn Q, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng về nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Đào Văn Q. Hành vi buôn bán hàng cấm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán và đốt các loại pháo nổ. Bị cáo Đào Văn Q là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi buôn bán, vận chuyển pháo nổ là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Đào Văn Q đã xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới là Biên lai nộp tiền án phí sơ thẩm; bị cáo đã ủng hộ các hộ nghèo trong thôn trong việc chống dịch Covid-19 và trong thời gian bị cáo chờ xét xử phúc thẩm, bị cáoluôn chấp hành tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, hương ước của khu dân cưđược chính quyền xã Ngọc Mỹ xác nhận để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo. Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa phần quyết định về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ, được chấp nhận.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm mức hình phạt thấp hơn mức đại diện Viện kiểm sát đề nghị là không phù hợp với nhận định nêu trên nên không được chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Đào Văn Qkhông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Văn Q về việc xin giảm nhẹ hình phạt; sửa một phần nội dung về hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2020/HS-ST ngày 14/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, cụ thể:
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự 2015
Xử phạt bị cáo Đào Văn Q 18 (mười tám) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2019 đến ngày 02/12/2019.
2. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Đào Văn Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - TAND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Công an huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu: Hồ sơ, Tòa hình sự, HCT,KTNV&THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vi Đức Trí |