vanban.org

Bản án 17/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 07/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU TH ÀNH
TỈNH KI ÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 17/2018/HSST
Ngày 07/3/2018

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG H

ÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU TH ÀNH, TỈNH KI ÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử s

ơ th ẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ T ọa phi ên tòa: Ông Mai Tấn Đẩu

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nhâm Đức H ùng

2/ Ông Danh Phô

- Thư k ý ghi biên bản phi ên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang

– Thư k ý Tòa án nhân dân huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th

ành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Minh

- Kiểm sát vi ên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2018, tại Trụ sở T òa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Ki ên Giang, xét xử công khai s ơ th ẩ m vụ án h ình sự thụ lý số

: 07/2018/HSST ngày 24 tháng 01 năm 2018, về tội

“Trộm cắp t ài sản ” theo Quyết định đ ưa v ụ án ra xét xử số

: 19/QĐXX-ST ngày 12 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc T ; sinh năm 1995; HKTT: Số 126/4A Nguyễn Bỉnh Khi êm, khu phố Đồng Khởi, ph

ư ờng Vĩnh Quang, th ành phố Rạch Giá, tỉnh Ki ên Giang ; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Ngư ph ủ ; Quốc tịch: Việt Na m; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Th ; sinh năm 1962 và bà Lê Thị Kim H; sinh năm 1968; Tiền án, tiền sự : Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ng

ày 28/11/2017 cho đến ng ày 19/01/2018 bị cáo đư ợc cho bảo l ãnh tại ngoại để điều tra cho đến nay

(có mặt ).

Ngư ời bị hại : Bà Ngô Thị T ư ờng L (Út); sinh năm 1972 (có mặt)

Trú tại: ấp Vĩnh Th ành B, xã Vĩnh H òa Hiệp , huyện Châu Th ành, Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án và diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đ ư ợc tóm tắt nh ư sau:

Do có quen biết với Ngô Thị T ư ờng Đ trú tại ấp Vĩnh H òa 1, xã Vĩnh H òa Phú, huyện Châu Th ành, tỉnh Kiên Giang, Đ là cháu của b à Ngô Thị T ư ờng L trú tại xã Vĩnh H òa Hiệp, huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang và hiện l àm giúp việc cho nhà bà L. Trong thời gian quen biết Nguyễn Ngọc

T thư ờng đến nh à bà L chơi nên T biết đ ư ợc ng ày 17/11/2017 gia đình bà L sẽ đi đám giỗ ở qu ê, nhà bà L không có ngư ời trong coi n ên T nảy sinh ý định lấy trộm t

ài sản của b à L để tiêu xài cá nhân. Vào ngày 17/11/2017 sau khi biết đ ư ợc b à L đi đám giỗ, không có ai ở nh à, T từ R ạ ch Giá điều khiển xe môtô nh ãn hiệu Wave Anpha biển ki ểm soát 68M4 - 4799 đến nh à bà L, T dừng b ên lộ đối diện nh à bà L rồi đi bộ đến mở cổng rào theo đư ờng h ành lang đi thẳng v ào phòng ngủ của b à L quan sát x ung quanh để t ìm chìa khóa mở cử a tủ, T lục soát tr ên bàn trang điểm của b à L thấy có 01 chùm chìa khóa gồm nhiều ch ìa khác nhau, T liền lấy ch ùm chìa khóa thử khoảng 05 đến 06 ch ìa thì mở đ ư ợc ngăn của tủ, Th

ơ nh ìn thấy b ên trong tủ có rất nhiều trang sức bằng v àng với nhiều kiểu dáng khác nhau nh ư: Nh ẫn, v òng đeo tay, dây chuyền, tiền Việt Nam v à tiền đ ôla Mỹ. Sau khi lấy đ ư ợc số t ài sản tr ên T bỏ v ào bọc ni lon màu đen đã chuẩn bị sẵn

rồi nhanh chóng rời khỏi hiện tr ư ờng theo hư ớng T đã vào. Sau khi trộm đ ư ợc số t ài sản T đã tiêu xài hết số tiền 20.000.000 đồng; 1000 đôla Mỹ (USD) v à đem bán một số t ài sản tại ti ệ m vàng B H ở ph ư ờng Vĩnh Bảo, th ành phố Rạch Giá, tỉnh Ki ên Giang gồm: 01 v òng đeo tay hình tròn vàng 24k, trọng l ư ợng 04 chỉ; 01 chiếc nhẫn tr òn 24k, trọng l ư ợng 04 chỉ; 01 chiếc nhẫn v àng 24k, trọng l ư ợng 03 chỉ ; 01 chiếc nhẫn tr òn vàng 18k (đính hộp thư ờng), trọng l ư ợng 03 chỉ; 01 chiếc nhẫn v àng 18k (đính hộp th ư ờng), trọng lư ợng 03 chỉ, số t ài sản tr ên T cũng ti êu xài cá nhân hết .

Đến ng ày 28/11/2017 T đến Công an huyện Châu Th ành tự thú về h ành vi trộm cắp t ài sản của b à Ngô Thị T ư ờng L , trú tại ấp Vĩnh Th ành B, xã Vĩnh H òa Hiệp, huyện Châu Th ành, tỉnh Ki ên Giang và giao nộp số t ài sản lấy trộm gồm

: 15 chỉ v àng 24k và 22,72 chỉ v àng 18k.

Tại bản kết luận định giá t

ài sản số : 90/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2017 của Hội đồng định giá t ài sản trong t ố tụng h ình sự huyện Châu Th ành kết luận: V àng 24k số l ư ợng 15 chỉ có giá trị l à 54.075.000đồng ( năm mươi b ốn triệu không trăm bảy m ươi lăm ngàn đ ồng); V àng 18k số l ư ợng 22,72 chỉ có giá trị l à 61.776.000đồng ( sáu mươi m ột triệu bảy trăm bảy m

ươi sáu ngàn

đồng). Tổng cộng số t ài sản qua định giá l à 115.851.000 đồng ( một trăm m ư ời một triệu t

ám trăm năm mươi m ột ng àn đồng) .

Tại bản kết luận định giá t

ài sản số : 98/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2017 của Hội đồng định giá t ài sản trong tố tụng h ình sự huyện Châu Th ành , tỉnh Ki ên Giang kết luận: 1000 USD có giá l à 22.710.000 đồng ; 11 chỉ v àng 24k có giá 39.347.000 đồng , 06 chỉ v àng 18k có giá là 16.188.0009đồng , tổng cộng l à 78.245.000 đồng và số tiền mặt m à bị cáo đ ã lấy trộm của b à L là 20.000.000 đồng.

Như v ậy tổng t ài sản T trộm cắp có giá trị l à 214.096.000đồng (hai trăm mư ời bốn triệu không trăm chín m

ươi sáu ngàn đồng).

Về trách nhiệm dân sự:

Ngư ời b ị hại b à Ngô Thị T ư ờng L đ ã nhận lại số t ài sản có giá trị 115.851.000 đồng, b à L yêu cầu bị c áo Nguyễn Ngọc T tiếp t ục bồi thư ờng cho b à số t ài sản bị thiệt hại có giá trị l

à 98.245.000đồng, bị c áo đồng ý bồi th ư ờng theo y êu cầu của b à L .

Đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát 68M4

- 4799 đây là tài sản của ông Nguyễn Văn Th, việc bị c áo T lấy xe đi trộm t ài sản ông Th kh ông biết, n ên đề nghị trả lại t ài sản cho ông Th v à ông Th đã nhận lại t ài sản v à không yêu cầu, không xem xét.

Tại bản cáo trạng số : 14/CTr- VKS ngày 22/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Ki ên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T về tội : “Trộm cắp t ài sản ” theo điểm a khoản 3 Điều 1 38 Bộ luật h ình sự.

Tại phi ên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị

cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “Trộm cắp t ài sản ” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 3 Điều 138 ; điểm o, p khoản 1 , khoản 2 Điều 46; Điều 47 và Điều 33 BLHS năm 1999, xử phạt b ị cáo Nguyễn Ngọc T từ 03 đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự đề nghị HĐXX áp dụng

Điều 589 BLDS năm 2015 xử buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T

bồi th ư ờng lại

cho bà Ngô Thị T ư ờng L số tiền 98.245.000 đồng.

Bị cáo và ngư ời bị hại

không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th

ành.

Bị cáo đ ư ợc nói lời nói sau c ùng , bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ h ình phạt cho bị cáo.

NHẬN Đ ỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v

ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phi

ên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy nh ư sau:

[1] - Về h ành vi, quyết định tố tụng của C

ơ quan đi ều tra Công an h uyện Châu Thành, Điều tra vi ên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Th ành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ ã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr

ình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng h

ình sự . Quá trình điều tra v à tại phi ên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về h

ành vi, quyết định của C ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng. Do đó, các h ành vi, quyết định tố tụng của C

ơ quan tiền h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.

[2] - Tại phi ên tòa, Nguyễn Ngọc T đã thừa nhận to àn bộ h ành vi phạm tội

của mình như b ản Cáo trạng đ ã nêu, lời khai của bị cáo

phù hợp với lời khai tại C ơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu , chứng cứ khác có trong hồ s

ơ, th ể hiện : Do giữa Nguyễn Ngọc T với b

à Ngô Thị T ư ờng L l à ngư ời quen n ên T biết đ ư ợc v ào ngày 17/11/2017 bà L không có ở nh à nên T đã lén lút đột nhập v ào nhà bà L lấy trộm 26 chỉ v àng 24K; 28,72 chỉ v àng 18K; 1000USD và tiền Việt Nam l à 20.000.000 đồng . Sau khi lấ y trộm đư ợc các t ài sản tr ên T lấy tiề n và một ít v àng đem bán tiêu xài cá nhân. Đến ng ày 28/11/2017 T đến Công an huyện Châu Th ành để tự thú về h ành vi phạm tội của T.

Tổng tài sản mà T lấy trộm của

bà L có giá trị theo kết quả định giá l à 214.096.000 đồng . Theo quy định t ại điểm a khoản 3 Điều 138 BLHS thì “1. Ngư ời n ào trộm cắp t ài sản của ng ư ời khác có giá trị từ hai triệu đồng đến d ư ới năm m ươi tri ệu đồng hoặc d ư ới hai triệu đồng nh

ưng gây hậu quả nghi êm trọng hoặc đ ã bị xử phạt h ành chính về h ành vi chiếm đoạt hoặc đ ã bị kết án về tội chi

ếm đoạt t ài sản, ch ưa đư ợc xoá án tích m à còn vi phạm, th ì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt t

ù từ sáu tháng đến ba năm …………… 3. Phạm tội thuộc một trong các tr

ư ờng hợp sau đây, th ì bị phạt t ù từ bảy năm đến m

ư ời lăm năm: a) Chiếm đoạt t ài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến d ư ới năm trăm triệu đồng

……”. Như v ậy , hành vi lén lút lấy trộm tài sản của b à L có giá trị 214.096.000 đồng của bị cáo T đã đủ y ế u tố cấu thành tội “Trộm cắp t ài sản ” đư ợc quy định tại điểm a khoản 3 Điều 138 BL

HS năm 1999 như đ ã viện dẫn nh ư trên.

Xét về tính chất mức độ

hành vi phạm tội của

bị cáo l à rất nguy hiểm cho x ã hội , bởi b ị cáo nhận thức đ ư ợc “Trộm cắp t ài sản” l à hành vi vi phạm pháp luật . Thế nh ưng ch ỉ v ì tham lam chay lư ời lao động

nên khi biết đ ư ợ c vào ngày 17/11/2017 bà L đi đám không có ở nh à thì sẽ không có ai trông coi tài sản bị cáo liền lén lút đột nhập v ào nhà bà L lấy trộm tiền

Việt Nam, tiền USD và vàng các loại với ý định đem

bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo không những gây ảnh h ư ởng lớn đến đời sống vật chất

của ng ư ời bị hại

mà còn gây dư lu ận x ấ u trong xã hội, tạo tâm lý bất an cho ng ư ời dân trong việc quản lý , giữ g ìn tài sản của m ình, gây mất an ninh trật tự tại địa ph

ương nơi x

ảy ra vụ án. HĐXX nghị án thảo l uận cần có mức án

nghiêm và cần tách ly bị cáo ra khỏi đời sống x ã hội một thời gian

để răn đe , giáo dục bị cáo và đồng thời

cũng nhằm phòng ngừa chung cho x ã hội.

[3] - Xét về t ình tiết giảm nhẹ: Tại phi

ên Tòa bị cáo có thái độ th ành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân bị cáo tốt không có tiền án, tiền sự;

sau khi phạm tội bị cáo đ ã tự thú với c ơ quan Công an v ề h ành vi sai phạm của bị cáo n ên cần xem xét áp dụng các t ình tiết giảm nhẹ cho bị cáo đ

ư ợc quy định tại điểm

o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46

BLHS. Do bị cáo có nhiều t ình tiết giảm nhẹ đ ư ợc quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS n

ên HĐXX sẽ áp dụng th êm Điều 47 BLHS chuyển sang khung h ình phạt liền kề nhẹ h

ơn c ủa điều luật cho bị cáo,

sẽ xem xét hình phạt khi l ư ợng h ình để có mức án ph ù hợp nhằm để

cải tạo, giáo dục bị cáo trở th ành một công dân tốt sống có í

t cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng v

à Nhà nư ớc.

[4] - Xét đề nghị của vị đại diện

Viện kiểm sát tại phi ên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng nh ư vi ệc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án l

à có căn cứ pháp luật n ên HĐXX ghi nhận để xem xét.

[5] - Về trách nhiệm dân sự:

Tại phi ên tòa ngư ời bị hại b à Ngô Thị T ư ờng L yêu cầu bị cáo trả lại cho b

à số tiền 98.245.000 đồng, ngo ài ra bà L không yêu cầu bị cáo phải bồi th ư ờng gì thêm, bị cáo đồng ý bồi th ư ờng theo y êu cầu của b à Loan nên HĐXX sẽ ghi nhận để xem xét.

[6] - Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

6.1 Đối với 15 chỉ v àng 24k và 22,72 chỉ v àng 18k mà bị cáo T đ ã giao nộp tại Cơ q uan điều tra v à tại đây T khai nhận đây l à số v àng mà T đã lấy trộm của b à Ngô Thị T ư ờng L nên trong quá trình điều tra Cơ quan c ảnh sát điều tra Công an huyện Châu Th ành đã xử lý trả lại số v

àng trên cho bà L. Xét việc trao trả t ài sản trên là đúng theo quy định pháp luật n ên HĐXX không xem xét.

6.2 Đối với chiếc xe môtô mang biển kiểm soát 68M4

- 4799 mà bị cáo sử dụng để l àm phương ti ện phạm tội nh ưng trong quá tr ình điều tra đ ã chứng minh đư ợc đây l à xe của ông Nguyễn Văn Th , việc bị cáo sử dụng xe để đi trộm cắp thì ông Th không hề hay biết n ên Cơ qu an cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã xử lý trả lại

xe cho ông Th. Xét việc trao trả xe tr ên là đúng pháp luật nên HĐXX không xem xét.

[7] - Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí

Hình sự s ơ thẩm và án phí dân sự s ơ th ẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ tr ên,

QUYẾ T ĐỊNH :

Tuyên bố b ị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội: “ Trộm cắp t ài sản ”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 1 38; điểm o, p khoản 1 , khoản 2 Điều 46 ; Điều 47 và Điều 33 Bộ luật h ình sự năm 1999 đư ợc sữa đổi bổ sung năm 2009

, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp h ành hình phạt t ù đư ợc tính kể từ ngày bị cáo đi chấp h ành án, bị cáo đ ư ợc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trư ớc (từ ng ày 28/11/2017 cho đến ng ày 19/01/2018).

Về trách nhiệm dân sự áp dụng Điều

48 BLHS năm 2015 đư ợc sữa đổi bổ sung năm 2017, Điều 585 và 589 BLDS năm 2015 xử buộc bị cáo Nguy ễn Ngọc T trả lại cho b à Ngô Thị T ư ờng L số tiền

98.245.000 đồng (chín mươi tám tri ệu hai trăm bốn m ươi lăm ngàn đồng)

Về áp phí áp dụng khoản 2

Điều 99 BLTTHS và Điều 2 3 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử buộc bị cáo

Nguyễn Ngọc T phải nộ p 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ th ẩm v à (98.245.000 đồng x 5 %) = 4.912.250 đồng , tiền án phí dân sự s ơ th ẩ m.

Báo cho bị cáo và ngư ời bị hại

có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ng ày tuyên án sơ th ẩm.

Trư ờng hợp quyết định đ

ư ợc thi h ành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 th

ì ngư ời đ ư ợc thi h ành án dân sự, ngư ời phải thi h ành án dân sự có quyền thỏa thuận thi h

ành án, quyền y êu cầu thi hành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b v à 9 Luật Thi h ành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi h ành án đư ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h

ành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nơi nh ận :

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S

Ơ TH ẨM

- TAND tỉnh Ki ên Giang;

Cỡ chữ