- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Sơn L phạm tội “ trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂKTÔ TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 17/2017/HSST Ngày 20/07/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂKTÔ
VỚI THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Hồng Tự và ông Lê Ngọc Tuấn.
Ghi biên bản phiên tòa: Ông Đoàn Anh Phương-Thư ký Tòa án.
VKSND huyện Đăktô tham gia phiên tòa: Bà Y Hà - KSV.
Trong ngày 20/7/2017, tại trụ sở TAND huyện ĐăkTô mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý :19/HSST ngày 04/7/2017 đối với bị cáo: Trần Nguyễn Sơn L , sinh ngày 15/01/1998 tại ĐăkTô, tỉnh KonTum. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Khối 9, thị trấn (TT) Đ , huyện C, tỉnh KonTum; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông: Trần Ngọc H và bà Nguyễn Thị N . Tiền án, tiền sự,: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời bị hại: Anh Đặng Ngọc T , trú tại 181 HV, TT Đ , huyện C, tỉnh KonTum. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh NLQ 1 trú tại: Khối 9, TT Đ , huyện C, tỉnh KonTum. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Anh NLQ 2 trú tại: Khối 9, TT Đ , huyện C, tỉnh KonTum. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Anh NLQ 3 trú tại: Khối 9, TT Đ , huyện C, tỉnh KonTum. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Anh NLQ 4 trú tại: Khối 9, TT Đ , huyện C, tỉnh KonTum. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Chị NLQ 5 trú tại: Khối 9, TT Đ , huyện C, tỉnh KonTum. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Bà NLQ6 trú tại: Khối 9, TT Đ , huyện C, tỉnh KonTum. Có mặt
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị VKSND huyện ĐăkTô truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào chiều ngày 25/01/2017, Trần Nguyễn Sơn L điều khiển xe mô tô BKS 82F1-00860 đi ngang qua nhà anh Đặng Ngọc T ở khối 9, TT ĐăkTô, huyện ĐăkTô, tỉnh KonTum, thấy đóng cửa không có người ở nhà, L nảy sinh ý định đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản. L chạy xe thẳng ra phía sau nhà anh Thành, nhìn thấy cửa bếp không khóa, chỉ chốt ngang bằng thanh gỗ bên trong, L liền thò tay tháo thanh gỗ ra mở cửa vào bếp trộm 02 động cơ điện đem cất giấu bên hông nhà và lấy 01 tua vít mầu vàng có sẵn trong bếp, tháo khung cửa sắt ở phòng khách vào lấy trộm 02 bàn kẹp gỗ hương và 02 ghế đôn gỗ hương. Sau khi trộm cắp được số tài sản trên, L gọi điện cho anh Võ Đức M , làm nghề cửa sắt ở khối 9 nói “ thằng bạn em làm mộc, có dư mấy cái ghế, nó cần tiền về quê ăn tết và nó nhờ em bán dùm, anh có mua không”. Anh Mãn trả lời “ có, đem xuống nhà xem đã”. Sau đó L trở 02 bàn kẹp và 02 ghế đôn đến nhà anh Mãn thì anh Mãn nói “ gần tết rồi không còn tiền mua”, L nói “ bạn em cần tiền về quê, anh mua đi em bán rẻ cho”, anh Mãn trả giá 2.200.000đ, L đồng ý cầm tiền đi về. Trên đường về, L đến tiệm điện cơ Tùng ở khối 9 để hỏi bán 02 mô tơ điện nhưng tiệm đóng cửa, L lấy số điện thoại trên bảng hiệu quảng cáo gọi điện cho anh Nguyễn Thanh Tùng nói “ gần tết anh dọn kho để về quê ăn tết, có 02 mô tơ điện em có mua không”, anh Tùng nói “ có hẹn 19 giờ thì về”. Đến khoảng 19 giờ L trở 02 mô tơ điện đem bán cho anh Tùng với giá 1.200.000đ. Sau đó L lại nói với anh Tùng là “ ở kho nhà anh còn 01 bình hơi nữa, em có mua không”, anh Tùng nói “ có anh cứ mang đến đây xem thử” rồi anh Tùng đưa tiền và L đi về.
Sáng hôm sau ngày 26/01/2017 L vào nhà anh Thành lấy trộm một bình nén khí đem bán cho Tùng với giá 300.000đ.
Đến khoảng giữa tháng 02/2017, L đột nhập vào nhà anh Thành theo lối vào lần trước, lấy trộm 01 xe mô tô BKS 82K1-9110, nhãn hiệu Citi mầu đỏ và một vỏ bình ga nhãn hiệu DANGPHUOC GAS PETRO VIETNAM GAS mầu xanh lá cây.
Đối với xe mô tô trộm được L dùng tua vít có sẵn trong nhà anh Thành tháo biển số bỏ lại rồi dắt xe về cất dấu bên hông nhà mình. Sau đó L đến nhà anh Hồ Văn Phước, làm nghề sửa chữa xe máy ở khối 9, TT ĐăkTô nói với anh Phước là “ em có chiếc xe đi rẫy, lâu ngày không xử dụng, bị hư hỏng anh có mua không”. Nghe vậy anh Phước đến nhà L xem xe, trong lúc đang xem xe thì L lại nói “đây là xe của em dùng để đi rẫy, lâu ngày không xử dụng, để ở trên rẫy, xe đã bị hư hỏng, em làm mất giấy tờ và biển số xe, không xử dụng nữa nên em đem về bán”. Sau khi xem xe, anh Phước mua với giá 800.000đ và nhờ L chạy xe về nhà anh Phước để lấy tiền rồi Phước trở L về nhà. Khi về nhà L gọi điện cho Trần Quý Nghĩa làm nghề buôn bán gas tại khối 9, TT ĐăkTô nói “ bạn em chuyển về quê sống để lại vỏ bình gas, nhờ em bán dùm, anh có mua không”, anh Nghĩa nói “ đem đến xem thử”. Sau đó L trở bình gas đến bán cho anh Nghĩa với giá 200.000đ.
Theo biên bản định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 08/BB-ĐGTS ngày 07/4/2017 của HĐĐG tài sản huyện ĐăkTô kết luận:
- 01 máy nén khí không rõ nhãn hiệu, mầu xanh dương, đã qua sử dụng, vẫn còn hoạt động bình thường có già là: 1.000.000đ.
- 01 động cơ điện nhãn hiệu Hồng Ký, mầu xanh lơ, loại công suất 2KW, không có quạt, tình trạng máy đã qua sử dụng, vẫn còn hoạt động bình thường có giá là 600.000đ.
- 01 động cơ điện không rõ nhãn hiệu, mầu xanh dương, không rõ công suất, không có quạt, tình trạng máy đã qua sử dụng, vẫn còn hoạt động bình thường có giá là 500.000đ.
- 01 xe mô tô BKS 82K1-9110, nhãn hiệu Citi, loại xe nữ mầu đỏ, xe đăng ký lần đầu năm 1999, số khung: 1063064, số máy: 1063051,tình trạng xe đã cũ có giá là 500.000đ.
- 02 ghế đôn loại gỗ hương giá 4.000.000đ.
- 02 bàn kẹp gỗ hương giá 5.000.000đ.
- 01 vỏ bình gas mầu xanh lá cây giá 250.000đ.
Tổng giá trị tài sản mà Trần Nguyễn Sơn L trộm cắp là: 11.850.0000đ.
Quá trình điều tra xác định anh Võ Đức Mãn là người mua của L 02 ghế đôn và 02 bàn kẹp gỗ hương; anh Nguyễn Thanh Tùng mua của L 02 mô tơ và 01 máy nén khí; anh Hồ Văn Phước mua của L xe mô tô BKS 82K1-9110; anh Trần Quý Nghĩa mua của L 01 vỏ bình gas. Quá trình mua bán L đã nói dối để họ tin đó là tài sản của L và bạn L nên đã mua. Việc mua bán trên họ hoàn toàn không biết đó là tài sản do L trộm cắp mà có, nên cơ quan điều tra Công an huyện ĐăkTô không đủ căn cứ để khởi tố họ về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có cơ sở.
Đối với chiếc tua vít mầu vàng mà L dùng để tháo biển số xe, cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
Đối với xe mô tô BKS 82K1- 00860 mà Trần Nguyễn Sơn L dùng vào việc trộm cắp, xác định chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị N , là mẹ của L .Việc L sử dụng chiếc xe mô tô trên để trộm cắp tài sản chị Nhàn hoàn toàn không biết. Cơ quan điều tra công an huyện ĐăkTô đã thu giữ sau đó trả lại cho chị Nhàn là đúng pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 19/KSĐT-TA ngày 30/6/2017 của VKSND huyện ĐăkTô đã truy tố bị cáo Trần Nguyễn Sơn L về tội “ trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138 BLHS. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Nguyễn Sơn L và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; Các điểm b,g,p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Sơn L từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Qua xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo Trần Nguyễn Sơn L đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của anh Đặng Ngọc T vào các ngày 25/01, ngày 26/01 và một ngày khoảng giữa tháng 02/2017, tại khối 9, thị trấn ĐăkTô, huyện ĐăkTô, tỉnh KonTum phù hợp với lời khai của người bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Tài sản trộm cắp được gồm: 01 máy nén khí; 02 ghế đôn gỗ hương; 02 bàn kẹp gỗ hương; 02 mô tơ điện; 01 vỏ bình gas và 01 xe mô tô BKS 82K1- 9110. Tổng giá trị tài sản trộm cắp theo định giá là 11.850.000đ, trong đó lần trộm cắp vào ngày 25/01/2017 lấy được: 02 mô tơ điện; 02 bàn kẹp gỗ hương và 02 ghế đôn gỗ hương, trị giá những tài sản này theo định giá là: 10.100.000đ. Lần trộm thứ hai thực hiện vào ngày 26/01/2017 bị cáo lấy được 01 bình nén khí giá trị là: 1.000.000đ. Lần trộm thứ ba thực hiện vào khoảng giữa tháng 02/2017 trộm cắp được 01 xe máy trị giá là 500.000đ và 01 vỏ bình ga trị giá 250.000đ. Trong 03 lần trộm cắp thì lần thứ nhất trị giá tài sản trộm cắp là 10.100.000đ là tội phạm đã hoàn thành, còn 02 lần sau chưa đủ định lượng, không có tính liên tục, nên không thể cộng dồn để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được. Như vậy chỉ một lần trộm cắp tài sản trị giá 10.100.000đ Đủ cơ sở kết luận Trần Nguyễn Sơn L đã phạm vào tội “ trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 điều 138 BLHS. Viện KSND huyện ĐăkTô truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp tới quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, còn gây ra tâm lý hoang mang, lo lắng cho nhân dân trên địa bàn. Trần Nguyễn Sơn L tuổi đời còn trẻ nhưng đã sớm thể hiện ý thức coi thường pháp luật, sớm biểu hiện thái độ lười lao động, thích hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác, nên đã trộm cắp tài sản. Xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cũng xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội gây thiệt hại không lớn; cùng với gia đình bồi thường khắc phục hậu quả. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b,g,p khoản 1 điều 46 BLHS, được áp dụng để giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
Xét thấy bị cáo có nhân thân, lý lịch, nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, có khả năng tự cải tạo được, nên không cần cách ly bị cáo với xã hội cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người biết tôn trọng pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định khi bị cáo đem bán tài sản trộm cắp cho anh Võ Đức Mãn, anh Nguyễn Thanh Tùng, anh Trần Quý Nghĩa gồm: ghế đôn, bàn kẹp gỗ, mô tơ và vỏ bình gas, khi bán bị cáo nói đó là những tài sản của mình và của bạn mình. Mặt khác những tài sản này không bắt buộc phải có giấy tờ chứng minh, nên những người mua không có lỗi trong việc này, không xem xét trách nhiệm hình sự là đúng pháp luật.
Còn đối với anh Hồ Văn Phước làm nghề sửa chữa xe máy, thì buộc phải biết rằng mua bán xe máy phải có giấy tờ đầy đủ mới hợp pháp. Nhưng khi mua chiếc xe mô tô BKS 82K1- 9110 không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, và không có biển kiểm soát mà vẫn mua bán là vi phạm pháp luật, đồng thời có 02 lần bị cáo trộm cắp tài sản là bình nén khí, xe mô tô biển kiểm soát 82K1-9110 và 01 vỏ bình ga. Kiến nghị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ĐăkTô xử lý hành chính đối với hành vi mua bán này của anh Hồ Văn Phước và hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo.
Đối với người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự nên HĐXX không xem xét.
Về tang vật: Gồm các tài sản do bị cáo trộm cắp và chiếc xe mô tô BKS 82F1-00860 đã được trao trả đầy đủ cho chủ sở hữu, không ai có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Sơn L phạm tội “ trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 điều 138; Các điểm b,g,p khoản 1 điều 46; Điều 60 BLHS: Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Sơn L 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hướng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án 20/7/207.
- Giao bị cáo Trần Nguyễn Sơn L cho UBND thị trấn ĐăkTô, huyện ĐăkTô, tỉnh KonTum theo dõi, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội: Bị cáo Trần Nguyễn Sơn L phải chịu 200.000đ( hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
" Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự".
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/7/2017) bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án. Người vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hợp lệ.
| Nơi nhận - TAND tỉnh Kon Tum -VKSND huyện ĐăkTô - Chi cục THA huyện Đăk Tô - Những người tham gia tố tụng - Lu hồ sơ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Nguyễn Văn Long |