- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Bá L - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đặng Bá L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2025.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 169/2026/HS-ST Ngày 02-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Long
2. Bà Lê Thị Phương Hồ
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường - Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2026 tại Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2026/TLST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2026/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 172/2026/HSST-QĐ ngày 19 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Bá L. Sinh năm 1984 tại TP.HCM; Giới tính: Nam; CCCD: 079084008084; Hộ khẩu thường trú: C P, khu phố B, phường B (khu phố A, phường A, quận B cũ), Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: E ấp D, xã H (ấp I, xã T, huyện H cũ), Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Chí Q và bà: Sơn Thị L1; Vợ, con: không có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/6/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Chí H (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần Anh Q1, sinh năm 1986; Hộ khẩu thường trú: 39/28/7 đường A, Khu phố H, phường P, TP T (nay là phường P), Thành phố Hồ Chí Minh (Hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số B, tỉnh Bình Dương theo Quyết định số 293/2024/QĐ-TA ngày 29/5/2025 của TAND huyện Hóc Môn, TP H về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 20 tháng kể từ ngày 03/4/2025) – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 01/4/2025, Công an phường P, Thành phố T tuần tra đến trước nhà trọ không số, hẻm A, đường A, khu phố H, phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Trần Anh Q1 có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên đưa về trụ sở làm việc. Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Q1 cho kết quả dương tính, Q1 khai nhận ngày 30/3/2025 có sử dụng ma túy cùng Đặng Bá L tại phòng trọ của L địa chỉ E ấp I, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Qua truy xét, Công an xã H đưa Đặng Bá L về trụ sở làm việc. Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể L cho kết quả dương tính.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Anh Q1 tại địa chỉ: 3 đường A, khu phố H, phường P, Thành phố T, kết quả: Không thu giữ gì.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Bá L tại địa chỉ: E ấp I, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ: 01 chai nước có nắp gắn với 01 ống hút (ký hiệu m) và 01 ống thủy tinh đầu tròn có dính chất rắn (ký hiệu m).
Kết luận giám định số 7482/KL-KTHS ngày 04/6/2025 của Phòng K Công an Thành phố H cho kết quả: Chất rắn được ký hiệu m cần giám định không xác định được khối lượng, không tìm thấy ma túy.
Kết luận giám định số 3359/KL-KTHS ngày 24/8/2025 của Phòng K Công an Thành phố H cho kết quả: Chất được ký hiệu m cần giám định không xác định được khối lượng, đều tìm thấy Methamphetamine ở dạng vết.
Tại Cơ quan điều tra Đặng Bá L khai nhận: Thuê trọ, sinh sống như vợ chồng với Lê Kim P tại địa chỉ E ấp I, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh. Q1 là em họ của P và thường hay đến phòng trọ của L chơi. L và Q1 cùng sử dụng chung ma túy với nhau 02 lần. Ma túy, bộ D sử dụng ma túy và địa điểm sử dụng ma túy là của Đặng Bá L, Q1 chỉ đến sử dụng ké. Nguồn ma túy L xin của Lê Minh P1, cụ thể:
- Lần 01: Ngày 27/3/2025, Q1 đến phòng trọ của L để xin sử dụng ké ma túy. L lấy ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy để cả hai cùng sử dụng. Cách thức sử dụng là L và Q1 thay nhau dùng hộp quẹt của L đốt nóng ống thủy tinh có đầu tròn chứa ma túy rồi hút bằng miệng.
- Lần 02: Ngày 30/3/2025, Q1 bắt xe ôm đến nhà L để hỏi xin sử dụng ké ma túy. L và Q1 tiếp tục sử dụng ma túy như trên, sử dụng xong khoảng 30 phút sau thì Q1 đi về, L đem cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy để không bị ai phát hiện.
Lời khai của Trần Anh Q1 phù hợp với lời khai của Đặng Bá L.
Vật chứng thu giữ:
- 01 ĐTDĐ hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu bạc (thu giữ của Đặng Bá L).
- 01 ĐTDĐ Viettel V2 màu đen (thu giữ của Trần Anh Q1).
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nước có nắp gắn với 01 ống hút và 01 ống thủy tinh có đầu tròn có dính chất rắn.
Đối với Trần Anh Q1 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo QĐ số 293/2024/QĐ-TA ngày 20/5/2025).
Đối với Lê Kim P không biết L và Q1 sử dụng ma túy tại nơi ở của mình nên không có căn cứ xử lý hình sự.
Đối với Lê Minh P1 là người cho ma túy để L sử dụng, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm và đề nghị xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 165/CT-VKS.KV8 ngày 15/01/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đặng Bá L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Bá L từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do bị cáo L không nghề nghiệp, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nước có nắp gắn với 01 ống hút và 01 ống thủy tinh có đầu tròn có dính chất rắn.
Đối với 01 ĐTDĐ hiệu S Note 8 màu bạc (thu giữ của Đặng Bá L) và 01 ĐTDĐ Viettel V2 màu đen (thu giữ của Trần Anh Q1), đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - TP.HCM Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 -Thành phố Hồ Chí Minh , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay qua phần xét hỏi và tranh tụng công khai, bị cáo Đặng Bá L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Vào các ngày 27/3/2025 và 30/3/2025, Đặng Bá L chuẩn bị ma túy và bộ D sử dụng ma túy để cùng Trần Anh Q1 sử dụng ma túy tại nhà trọ của mình địa chỉ E ấp I, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Hành vi của bị cáo L đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết phạm tội 02 lần trở lên theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đặng Bá L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội.
Đối với Trần Anh Q1 đã tham gia cùng sử dụng ma túy với L vào ngày 27/3/2025 và 30/3/2025 nhưng không tham gia vào việc chuẩn bị, cung cấp ma túy, dụng cụ và địa điểm nên hành vi của Q1 không cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự.
Ma túy là chất gây nghiện nguy hiểm do Nhà nước thống nhất quản lý độc quyền. Mọi hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đều bị Nhà nước nghiêm cấm, bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và tự nhận thức được điều này nhưng xuất phát từ động cơ, mục đích thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bằng hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận không tốt trong nhân dân. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trái pháp luật do mình gây ra và cần phải có hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm tương tự.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét thêm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có hình phạt tương xứng.
Bị cáo Đặng Bá L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết tăng nặng: không có.
Với các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhưng có xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng như đã nêu trên để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền để sung ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, xét thấy theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan Công an thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nước có nắp gắn với 01 ống hút và 01 ống thủy tinh có đầu tròn có dính chất rắn, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 ĐTDĐ hiệu S Note 8 màu bạc (thu giữ của Đặng Bá L) và 01 ĐTDĐ Viettel V2 màu đen (thu giữ của Trần Anh Q1) là tài sản thuộc quyền sở hữu của L và Q1, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho L và Q1.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 38, khoản 2 Điều 35 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Đặng Bá L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/6/2025.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong ghi số 2370/25 PC04 (HM) và 01 gói niêm phong ghi số 3501/25 (bên trong có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nước có nắp gắn với 01 ống hút và 01 ống thủy tinh có đầu tròn có dính chất rắn).
Trả lại cho bị cáo Đặng Bá L 01 ĐTDĐ hiệu S Note 8 màu bạc, đã qua sử dụng.
Trả lại cho Trần Anh Q1 01 ĐTDĐ Viettel V2 màu đen, đã qua sử dụng.
(Các vật chứng đang do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 – Thành phố Hồ Chí Minh tạm giữ theo Lệnh nhập kho vật chứng số G7419/LNK-CSMT ngày 24/12/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2026).
- Về án phí:
Buộc bị cáo Đặng Bá L phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - VKSND Khu vực 8-TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - PV06-Công an TP.HCM; - Phòng THADS Khu vực 8-TP.HCM; - Phân trại tạm giam Hóc Môn, Trại tạm giam số 2 - CATPHCM; - Trại tạm giam Chí Hòa-CATHCM; - THA HS; - Bị cáo; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thanh |