vanban.org

Bản án 169/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Long An Tuyên án 21/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Em "Vận chuyển hàng cấm" - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2023/HS-PT
Ngày: 21-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Những

Ông Trần Quốc Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 148/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng E đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2023/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Hoàng E, sinh năm 1981, tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: số A, ấp S, xã H, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1958 (đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm 1960; vợ Trần Thị Kiều D, sinh năm 1985; Có 02 người con, sinh năm 2012 và năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Hoàng E: Luật sư Võ Văn Ú – Luật sư cộng tác Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Vắng mặt)

- Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trước đây, Nguyễn Hoàng E có quen biết với một người tên R (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) tại Chợ Đ - Thành phố Hồ Chí Minh. Rum sử dụng số điện thoại 0336218806 hướng dẫn Hoàng E mua pháo hoa từ Campuchia mang về huyện Đ, tỉnh Long An để bán lại cho R với giá mỗi hộp là 500.000 đồng. Ngày 18-01-2023, Hoàng E đến Bến xe cửa khẩu C1 gặp một người Campuchia là nam giới tên N tại quán cà phê ven đường, cách cây xăng “Tám Mộng” khoảng 100m để hỏi mua pháo, N đồng ý bán pháo cho Hoàng E với giá 300.000 đồng/hộp và hẹn địa điểm nhận pháo, giao tiền tại đường mòn cặp đường tuần tra biên giới cách mép nước Kênh biên giới phân chia Việt Nam - Campuchia 17,5m, thuộc ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Long An. Hoàng E mua tổng cộng 18 hộp pháo với tổng số tiền là 5.400.000 đồng. Sau khi trả tiền cho N, Hoàng E nhận pháo xếp pháo vào hai giỏ nhựa ràng phía sau xe mô tô 66N3-0809 đi về hướng thị trấn T theo Tỉnh lộ 819 để về hướng huyện Đ. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 19-01-2023, cầu 30/4, T lộ 819 thuộc ấp B, xã T, thị xã K, tổ tuần tra Công an xã T, thị xã K phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Hoàng E đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66N3-0809 chở phía sau tổng cộng 18 hộp pháo, bên ngoài bọc giấy có ký hiệu KS4-4911K do Trung Quốc sản xuất.

Tang vật tạm giữ: 01 xe mô tô biển kiểm soát: 66N3-0809, số khung RMCDCH6UM51000095, số máy VLF1P50FM50000095; 01 điện thoại di động hiệu OPPO đã qua sử dụng, sim số 1: 0936065212, sim số 2: 0987402893; 18 hộp có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nền xanh có in hình tòa tháp đôi ký hiệu KS4-4911K do Trung Quốc sản xuất.

Tại bản Kết luận giám định số: 1123/KL-KTHS ngày 09/02/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C2 kết luận: Tất cả mẫu vật gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng trọng lượng 29kg.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2023/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An, đã xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng E phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng E 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19 tháng 9 năm 2023 bị cáo Nguyễn Hoàng E kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng E giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Hoàng E kháng cáo đúng thời hạn và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung vụ án và kháng cáo: Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xét hỏi tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng E phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự, là đúng pháp luật, không oan cho bị cáo. Mức hình phạt 01 năm tù là tương xứng. Tuy nhiên, xét bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nơi cư trú rõ ràng và có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù, nhưng cho hưởng án treo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày, theo bài bào chữa gửi cho Hội đồng xét xử có nội dung: Nêu lại các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được cấp sơ thẩm xem xét. Hiện tại, bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn về kinh tế gia đình, mà còn phải đang nuôi con mắc bệnh hiểm nghèo thường xuyên nhập viện điều trị; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cứ trú rõ ràng. Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi phạm tội của bị cáo là trái pháp luật; hoàn cảnh gia đình của bị cáo hiện rất khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi 02 người con còn nhỏ tuổi, trong đó có một người con mắc bệnh hiểm nghèo. Mong muốn được Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo có điều kiện chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hoàng E thực hiện kháng cáo đúng quy định của pháp luật tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ việc và yêu cầu kháng cáo:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng E khai nhận: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 19-01-2023, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66N3-0809 chở 18 hộp pháo tổng cộng 29kg để đi đến khu vực huyện Đ, tỉnh Long An, nhằm bán lại cho người có tên là R. Khi đi đến khu vực cầu C, Tỉnh lộ 819, thuộc ấp B, xã T, thị xã K, bị tổ tuần tra Công an xã T, thị xã K phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật. Xét, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung án sơ thẩm đã nêu. Do đó, cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, không oan cho bị cáo.

Xem xét nhân thân, tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo để tuyên phạt bị cáo với mức án như trên là thỏa đáng.

[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng:

Tại cấp sơ thẩm, đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có người thân có công với Cách mạng; bản thân là lao động chính; nuôi con nhỏ bệnh bại não, mẹ bệnh huyết áp và tiểu đường được hưởng chế độ trợ cấp; gia đình có sổ hộ nghèo, có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Tuy nhiên, theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xét thấy: Bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình, đang nuôi 02 người con còn nhỏ tuổi, trong đó có một người con mắc bệnh hiểm nghèo. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ vào Điều 65 Bộ luật Hình sự và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo. Việc cho bị cáo được hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần của bản án sơ thẩm về hình phạt như đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị, cùng ý kiến của Luật sư bào chữa. Theo hướng, giữ nguyên mức hình phạt tù, nhưng cho hưởng án treo, cũng có tác dụng giáo dục đối với bị cáo để trở thành người công dân có ít cho xã hội.

[3] Từ những căn cứ và nhận định trên: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng E. Sửa một phần của Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2023/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An về phần hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về án phí: Căn cứ các Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Hoàng E không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng E. Sửa một phần của Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2023/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An, về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hoàng E.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng E phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng E 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày 21-12-2023.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng E cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Hoàng E có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Hoàng E cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Hoàng E vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.

2. Về án phí:

Căn cứ: Các Điều 135 và 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hoàng E không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ