vanban.org

Bản án 169/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 08/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Trung T phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;

của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Trung T 9 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trung T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Trung T phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 169/2017/HSST
Ngày: 08/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Chí.

2. Ông Nguyễn Công Lý.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt - Cán bộ Tòa

án nhân dân quận Gò Vấp Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2017 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố

Hồ Chí Minh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 137/2017/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Phạm Trung T, giới tính: nam, sinh năm: 1992, tại: Thành phố Hồ Chí

Minh; HKTT: 31/3/2 đường A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Phạm Thanh Th và bà Nguyễn Thị Thuận A; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giam: 15/4/2017; (Có mặt).

Bị hại:

1. Chị Hà Thị C, sinh năm: 1981; trú tại: 01/23B đường K, Phường L,

quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

2. Anh Trần Trung N, sinh năm: 1978; trú tại: 836 đường H, Phường G,

quận M, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo Phạm Trung T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố về

hành vi phạm tội như sau:

Với ý định vào khách sạn để trộm cắp màn hình tivi, khoảng 15h ngày

16.4.2017, Phạm Trung T mang theo 01 màn hình tivi hư nhằm tráo đổi rồi đi xe buýt từ bến xe Miền Đông đến khu vực quận Gò Vấp, sau đó T đi xe ôm đến khách sạn Biển Sao, địa chỉ 1/23B đường K, Phường L, quận M do chị Hà Thị C làm chủ. T thuê phòng 504 của khách sạn rồi dùng dụng cụ mang theo sẵn là vít và dao thái lan để tháo màn hình tivi hiệu Toshiba 24 inch và lấy giấy báo bọc màn hình tivi lại, T lắp màn hình tivi hư 32 inch mang theo sẵn để tráo đổi nhưng không vừa nên lấy bình sơn xịt màu đen xịt vào màn hình tivi 24 inch của khách sạn mà thành vừa lấy trộm để không bị nhân viên khách sạn phát hiện, sau đó T mang 02 màn hình tivi xuống quầy tiếp tân trả phòng, lúc này nhân viên khách sạn kiểm tra phòng phát hiện mất màn hình tivi trong phòng nên báo lễ tân giữ T lại để kiểm tra, nhân viên khách sạn phát hiện T lấy trộm màn hình tivi nên đã trình báo Công an phường 10 bắt giữ và lập biên bản phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ:

-01 màn hình tivi hiệu Toshiba 24 inch.

-01 tivi hiệu Toshiba 24 inch (thu giữ của khách sạn).

-01 màn hình tivi 32 inch không rõ nhãn hiệu (thu giữ của Thành).

-01 tua vít, 02 dao thái lan, 01 bình sơn đen, 01 ổ cắm điện, 01 mỏ hàn, 01

vi mạch điện tử.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 89/KL ngày 18.4.2017 của Hội đồng

định giá tài sản trong tố tụng UBND quận Gò Vấp kết luận: màn hình tivi hiệu Toshiba 24 inch, do Việt Nam sản xuất, đã qua sử dụng, theo giá thị trường ngày 15.4.2017 là 2.100.000. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hà Thị C 01 màn hình tivi hiệu Toshiba 24 inch và 01 tivi hiệu Toshiba 24 inch.

Đối với 01 màn hình tivi 32 inch không rõ nhãn hiệu, T khai đã mua của

một thành niên không rõ lai lịch ở lề đường chợ Nhật Tảo quận 10, 01 tua vít, 02 dao thái lan, 01 bình sơn đen, 01 ổ cắm điện, 01 mỏ hàn, 01 vi mạch điện tử Thành sử dụng làm công cụ gây án, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng.

Tại cơ quan điều tra T khai nhận còn thực hiện các vụ trộm cắp khác, cụ

thể:

Vụ 1: Vào khoảng thời gian giữa tháng 02/2017 (không nhớ ngày) T đến

khách sạn Minh Châu, địa chỉ 8/5 đường U, phường V, quận Tân Bình thuê phòng rồi lấy trộm 01 bo mạch tivi 32 inch (không rõ nhãn hiệu) đem đến chợ Nhật Tảo, Quận 10 bán cho người mua dạo (không rõ lai lịch) với giá 7.000 đồng. Cơ quan điều tra đã có công văn gởi Công an quận Tân Bình để phối hợp điều tra.

Vụ 2: vào khoảng thời gian giữa tháng 02/2017 (không nhớ ngày) T đến

khách sạn Vĩnh Phát, địa chỉ 1270 đường Q, phường X, quận Tân Bình thuê phòng rồi lấy trộm một bo mạch tivi 32 inch (không rõ nhãn hiệu) đem đến chợ Nhật Tảo, Quận 10 bán cho người mua dạo (không rõ lai lịch) với giá 7.000 đồng. Cơ quan điều tra đã có công văn gởi Công an quận Tân Bình để phối hợp điều tra.

Vụ 3: Vào khoảng 17h ngày 14.3.2017 T đến khách sạn Đại An, địa chỉ:

836 đường H, Phường G, quận M do anh Trần Trung N làm chủ thuê phòng 102 rồi lấy trộm 01 màn hình tivi 32 inch hiệu Samsung đem đến chợ Nhật Tảo quận 10 bán cho người mua dạo (không rõ lai lịch) với giá 500.000 đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 113/KL ngày 15.5.2017 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng UBND quận Gò Vấp kết luận: định giá màn hình tivi hiệu Samsung 32 inch qua hồ sơ, không có hóa đơn chứng từ, không xác định được xuất xứ, thông số kĩ thuật, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự không có cơ sở kết luận chính xác giá trị tài sản tại thời điểm xảy ra trộm cắp. Người bị hại là anh Trần Trung N không yêu cầu T bồi thường tài sản bị mất trộm.

Đối với đối tượng mua tài sản do T mang đến bán, hiện cơ quan điều tra

chưa xác định được nhân thân lai lịch nên chưa có cơ sở để xử lý, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Tại cơ quan điều tra Phạm Trung T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội

như đã nêu trên .

Tại bản cáo trạng số 159/CTr-VKS, ngày 29/6/2017 của Viện kiểm sát

nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Phạm Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp sau

khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đối với vụ án đã đề nghị:

- Xử phạt bị cáo Phạm Trung T từ 9 tháng đến 12 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 màn hình tivi 32 inch, 01 vi mạch điện tử

có số hiệu 32S610 – IR85819, 32HM2211162661, 01 ổ cắm điện tròn màu xanh dương, 01 mỏ hàn điện cán màu xanh dương.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 tuavít dài 30cm cán nhựa màu xanh, 01 bình sơn

xịt màu đen hiệu ATM, 01 con dao Thái lan cán vàng, 01 con dao Thái lan cán gỗ.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào

kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò

Vấp công bố bản cáo trạng thì Phạm Trung T đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại,

cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Phạm Trung T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người bị hại, bị cáo đã thực hiện hành

vi lén lút tráo đổi lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ

quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 138 của Bộ luật Hình sự,

xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay người bị hại chị Hà Thị C vắng mặt, nhưng qua hồ

sơ thể hiện chị đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt hiện không thắc mắc hay khiếu nại gì nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Đối với anh Trần Trung N tại phiên tòa hôm nay vắng mặt, nhưng qua hồ

sơ không có cơ sở định giá tài sản mà anh bị mất trộm và anh cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường, không có thắc mắc khiếu nại gì nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 màn hình tivi hiệu Toshiba 24 inch và 01 tivi hiệu Toshiba 24

inch qua xác minh là của chị Hà Thị C. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị C, Hội đồng xét xử nhận thấy việc trả lại tài sản đó là phù hợp với quy định của pháp luật và không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

Đối với 01 màn hình tivi 32 inch không rõ nhãn hiệu (thu giữ của T) và 01

vi mạch điện tử không rõ nguồn gốc, 01 ổ cắm điện, 01 mỏ hàn Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 tua vít, 02 dao thái lan, 01 bình sơn đen là dụng cụ bị cáo dùng

để thực hiện hành vi phạm tội Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.

Đối với số tiền 500.000 đồng bị cáo khai nhận là tiền bị cáo thu lợi được

và đã tiêu xài hết là tiền thu lợi bất chính, Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ nhà nước.

Đối với hành vi bị cáo trộm 02 bo mạch điện tử tại Tân Bình Cơ quan điều

tra đã có công văn gởi Công an quận Tân Bình để phối hợp điều tra nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không xem xét hành vi đó của bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phạm Trung T phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h,p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33;

của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Phạm Trung T 9 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể

từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/4/2017.

Áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự và khoản 1, điểm a, đ khoản 2 Điều

76 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu và sung quỹ nhà nước 01 màn hình tivi 32 inch không rõ nhãn

hiệu, 01 ổ cắm điện tròn màu xanh dương, 01 mỏ hàn điện cán màu xanh dương và 01 vi mạch điện tử có số hiệu 32S610 – IR85819, 32HM2211162661.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 tua vít dài 30 cm cán nhựa màu xanh, 02 dao thái

lan (một cán gỗ và 01 cán vàng), 01 bình sơn xịt màu đen hiệu ATM.

(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 443/PNK, ngày 21/4/2017 của Công an

quận Gò Vấp).

- Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 500.000 (Năm trăm ngàn)

đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Áp dụng khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Dân sự;

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo Phạm Trung T không

nộp số tiền thu lợi bất chính nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được thực hiện theo quy định tại khỏan 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật Phí và Lệ phí,

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày

tính kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ