vanban.org

Bản án 168/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Trần Trọng T, Phạm Đinh L, Trương Quốc T3 (tên gọi khác: R) và Lê Trọng T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày các bị cáo bị bắt tạm giữ 10/7/2024. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Trọng T cùng đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Trọng T, Phạm Đinh L, Trương Quốc T3 (tên gọi khác: R) và Lê Trọng T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 168/2024/HSST
Ngày 26-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Xuân Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Thắng - Giáo viên trường THCS Hiếu Giang.

2. Bà Võ Thị Kim Lan - Công chức tư pháp, phường Đông Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Thuý Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị V - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 159/2024/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2024/QĐXXST-HS ngày 12/12/2024, đối với các bị cáo:

1. Trần Trọng T, giới tính nam; sinh ngày: 21/9/2004 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Trần Văn T1, sinh năm 1958 và bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1960; đều trú tại khu phố A, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con út; chưa có vợ con; tiền sự, tiền án: Không có;

2. Phạm Đinh L, giới tính nam; sinh ngày: 14/10/2002 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố E, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Phạm Lê L1, sinh năm 1980 và bà Đinh Thị Thanh N, sinh năm 1982, cả hai hiện đang chấp hành án; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con đầu; có vợ Hoàng Thị Thu T2, sinh năm 2000 và 01 con sinh năm 2020; tiền sự, tiền án: Không có;

Nhân thân: Ngày 05/5/2021, bị Ủy ban nhân dân Phường B1, thành phố Đ áp dụng biện pháp giáo dục tại phường trong thời hạn 03 tháng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy";

3. Trương Quốc T3 (tên gọi khác: R), giới tính nam; sinh ngày: 08/9/2007 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Trương Thụy Đ, sinh năm 1980 và bà Võ Thị H1, sinh năm 1975; đều trú tại khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út; tiền sự, tiền án: Không có;

Nhân thân: Ngày 21/9/2023, bị Công an huyện C, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi "Cố ý gây thương tích".

Các bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/7/2024 đến ngày 19/7/2024 thì chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ cho đến nay.

4. Lê Trọng T4, giới tính: nam; sinh ngày: 15/3/2008 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố D, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Lê Châu K, sinh năm 1960 và con bà Trần Thị T5, sinh năm 1975; cùng trú tại khu phố D, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ năm; tiền sự, tiền án: Không có;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/7/2024 đến ngày 19/7/2024 thì chuyển tạm giam, đã chuyển đến Nhà tạm giữ Công an thị xã Q cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên toà

- Người đại diện hợp pháp của Trương Quốc T3: Ông Trương Thụy Đ, sinh năm 1977 và bà Võ Thị H1, sinh năm 1975; đều trú tại: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt;

- Người bào chữa cho bị cáo Trương Quốc T3: Bà Lê Thị Diệu H2; Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Q, có mặt;

- Người đại diện hợp pháp và bào chữa của Lê Trọng T4: Ông Lê Châu K, sinh năm 1960 và bà Trần Thị T5, sinh năm 1975; đều trú tại: Khu phố D, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Võ Thị H1, sinh năm 1975; trú tại: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt;

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc H3, sinh năm 1980; trú tại: Khu phố D, Phường A,

thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

+ Chị Trần Thị N1, sinh năm 2003; trú tại: Khu phố C, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và làm chứng: Anh Hoàng Công K1, sinh năm 2004; trú tại: Khu phố B, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và làm chứng: Anh Nguyễn Đăng P, sinh năm 2002; Khu phố D, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin vắng mặt tại phiên toà;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 09/07/2024, Trần Trọng T, Phạm Đinh L, Trương Quốc T3, Lê Trọng T4, Nguyễn Đăng P và Hoàng Công K1 ngồi ăn uống tại nhà của P. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày thì K1 mượn xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, biến kiểm soát 74C1-509.68 của T để đi làm. Còn P đi xuống bếp để lấy thêm đá lạnh. Lúc này T khởi xướng tìm chỗ nào để sử dụng ma túy. Nghe vậy thì T3 nói, bố mẹ T3 đi vắng, mọi người về nhà T3 để sử dụng ma tuý. L nói, L có 04 viên ma túy hồng phiến sẽ mời mọi người sử dụng.

Sau khi P quay trở lại thì được T và T3 thông báo, một lúc nữa về nhà T3 chơi, sử dụng ma túy, P nghe vậy thì đồng ý rồi cả nhóm tiếp tục ngồi ăn uống cùng nhau.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, T3 chở T bằng xe mô tô Honda AirBlade màu đỏ đen, bảng biển kiểm soát 74B1-072.92 (của bà Võ Thị H1, mẹ của T3) đến nhà T3 ở địa chỉ khu phố I, Phường E, thành phố Đ. Khoảng 10 phút sau thì K1 quay trở lại nhà P. T4, P, K1 và L ngồi ăn uống thêm khoảng 10 phút thì dọn dẹp. Sau khi T và T3 đến nhà của T3 thì T ngồi tại phản gỗ ở phòng khách để làm 03 cái "xẻng" từ mảnh giấy kẽm trong gói thuốc lá để sử dụng ma túy còn T3 thì đi tìm 01 chai nhựa và bật lửa. Tín làm "xẻng" xong thì L điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển kiểm soát 74C1-473.18 (xe của L); K1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, mang biển kiểm soát 74C1-509.68 (xe của T) đến nhà T3. Tín cùng T3, L, K1 xuống phòng bếp ngồi, tại đây L làm thêm 01 cái "xẻng" còn T3 thì lấy bật lửa hơ nóng chai nhựa. Tiếp đó P điều khiển xe mô tô hiệu Skyway màu nâu, mang biển kiểm soát 29N1-2957 (xe của bà Nguyễn Thị Ngọc H3, là mẹ của P) và T4 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ nâu đen, mang biển kiểm soát 74C1-486.83 (của chị Trần Thị N1, là bạn của T4) đến nhà của T3. Đến nơi, P và T4 đi vào trong nhà bếp và ngồi cùng mọi người. Cả nhóm ngồi thành một hình tròn, trong đó T3 cùng T, L, P, K1 ngồi ở dưới nền nhà còn T4 ngồi ở trên ghế. T3 lấy một chai nhựa đã bị đốt nóng rồi đặt ở giữa nền nhà. L cầm ma túy ở tay để ra giữa nền nhà. L lấy 01 cái dĩa sứ màu trắng đặt ra giữa nền nhà và bỏ toàn bộ "xẻng" lên trên dĩa. Sau đó L dùng kéo cắt đoạn ống nhựa chứa 04 viên ma túy hồng phiến và đặt ma túy lên 02 cái "xẻng", mỗi cái xẻng chứa 02 viên và đặt lên dĩa sứ. Cùng lúc đó, T xin trong nhóm một tờ tiền để làm ống hút sử dụng ma túy. T4 tự nguyện đưa cho T một tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng. Tín cầm tờ tiền trên và làm thành một ống hút rồi dùng kéo đục một lỗ trên thành chai và gắn ống hút lên. Sau đó, cả nhóm bắt đầu sử dụng ma túy, thứ tự bắt đầu từ T3, L, T, P rồi đến K1. Người nào sử dụng thì người đó lấy xẻng chứa ma túy trên dĩa, dùng bật lửa hơ nóng "xẻng" rồi đặt "xẻng" chứa ma túy ngay đầu ống hút được làm từ tờ tiền và dùng miệng hút ở đầu chai nhựa. Khi cả nhóm đang sử dụng ma tuý thì T4 ngồi quan sát, không sử dụng ma túy.

Đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 10 tháng 07 năm 2024, khi cả nhóm vừa sử dụng xong 02 viên ma túy hồng phiến, còn 02 viên ma túy chưa kịp sử dụng thì Tổ công tác Công an thành phố Đ đến kiểm tra hành chính tại nhà của T3. Do hoảng sợ nên T3 cầm chai nhựa có gắn ống hút làm từ tờ tiền chạy ra phía sần sau nhà rồi T3 tháo tờ tiền vứt vào sọt rác còn chai nhưa thì ném xuống sân. T cầm bật lửa và kéo đem đi ném ở phía sân sau nhà còn L thì cầm đĩa sứ cất ở góc dưới bồn rửa chén và lấy toàn bộ "xẻng" cùng ma túy trên "xẻng" đem đi ném ở phía sau nhà T3. Sau đó T, L, P, K1, T4 chạy vào phòng ngủ của T3 đề trốn thì bị Tổ công tác Công an thành phố Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 02 viên ma túy cùng toàn bộ các dụng cụ dùng để sử dụng ma túy trên.

Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:

- 02 viên nén hình trụ tròn màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY;

- 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được quấn tròn làm ống hút;

- 01 bật lửa màu vàng;

- 01 cây kéo có cán màu vàng dài 23cm;

- 01 chai nhựa trong suốt cao 21cm có đường kính đáy 5,5cm, đường kính miệng chai 2,5cm, từ đáy chai lên thân chai 6cm có đục một lỗ;

- 04 xẻng được làm từ giấy bạc;

- 01 dĩa sứ màu trắng đường kính 1 cm, cao 2,5 cm có in hình bông hoa màu đó giữa dĩa;

- 01 đoạn ống nhựa trong suốt dài 6,8 cm, đường kính miệng 0,8cm;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, màu đen, số IMEI: 353887103353168, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s, màu bạc, số IMEI: 356139095365926, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu đỏ, số IMEI: 352997094861029, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen, số IMEI: 353106101404869, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu xám, số IMEI: 355790073906338, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng đồng, số IMEI: 357270095181689, đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong;

- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, mang biển số 74C1-509.68; số khung RLCUE3740NY 179279; số máy E32VE713791;

- 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu xanh bạc, mang biển số 74C1-473.18; số khung RLHKF4103LZ033815; số máy KF41E0093230.

- 01 xe mô tô Skyway màu nâu, mang biển kiểm soát 29N1-2957, số khung LWAXCGL32YA866086; số máy LC150FMG01866086.

- 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu đỏ đen, mang biển kiểm soát 74B1-072.92, số máy JF18E5318240; số khung RLHJF18078Y712340.

- 1 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ nâu đen, mang biển kiểm soát 74C1-486.83, số khung RLHJK0315MZ374950; số máy JK03E6087127.

- Tại bản Kết luận giám định số 831/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận: 02 viên nén gửi đến giám định có khối lượng 0,1910 gam là ma túy loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 161/CT-VKS-ĐH ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã truy tố các bị cáo Trần Trọng T, Phạm Đinh L và Lê Trọng T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Trương Quốc T3 (Rôm) về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trần Trọng T, Phạm Đinh L, Trương Quốc T3 (Rôm) và Lê Trọng T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Trần Trọng T từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù; Phạm Đinh L từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù;

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Quốc T3 (Rôm) từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 05 tháng tù;

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, i khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Trọng T4 từ 18 tháng đến 20 tháng tù.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

- Tịch thu và tiêu hủy: Số ma túy hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì mã số QTS- 831; 04 mảnh giấy bạc; 01 chai nhựa trong suốt cao khoảng 21cm, cách đáy chai 5,5cm; 01 bật lửa; cây kéo có cán màu vàng dài 23cm; 01 dĩa sứ màu trắng đường kính 1 cm, cao 2,5 cm có in hình bông hoa màu đó giữa dĩa và 01 đoạn ống nhựa trong suốt dài 6,8 cm, đường kính miệng 0,8cm..

+ Trả lại cho Nguyễn Đăng P: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu đỏ, số IMEI: 352997094861029, đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho Hoàng Công K1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng đồng, số IMEI: 357270095181689, đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Phạm Đinh L: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, màu đen, số IMEI: 353887103353168 và 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu xanh bạc, mang biển số 74C1-473.18; số khung RLHKF4103LZ033815; số máy KF41E0093230 đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Trần Trọng T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen, số IMEI: 353106101404869 và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, mang biển số 74C1-509.68; số khung RLCUE3740NY 179279; số máy E32VE713791 đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Lê Trọng T4: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s, màu bạc, số IMEI: 356139095365926, đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Trương Quốc T3: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu xám, số IMEI: 355790073906338, đã qua sử dụng.

Tạm giữ của các điện thoại của các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhận lại tài sản không ai có yêu cầu gì nên không xem xét.

Người bào chữa cho Trương Quốc T3 phát biểu quan điểm: Thống nhất về tội danh, tình tiết giảm nhẹ và điều khoản áp dụng đối với bị cáo T3. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét: Khi phạm tội bị cáo T3 là người chưa thành niên, nhận thức còn hạn chế để đưa ra mức án nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ cho bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Cần xem xét cho bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp các các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại, kiến nghị gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng, hợp pháp, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Trọng T, Phạm Đinh L, Trương Quốc T3 (R) và Lê Trọng T4 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 09/7/2024, trong lúc ngồi nhậu, Trần Trọng T khởi xướng tìm địa điểm để cùng nhau sử dụng ma tuý. Trương Quốc T3 liền đưa ra ý kiến lựa chọn nhà của T3 làm địa điểm để sử dụng ma tuý. Phạm Đinh Long cung C ma tuý cho mọi người sử dụng. Sau khi đến nhà T3, Lê Trọng T4 đã cung cấp tờ tiền của T4 để làm công cụ cho nhóm T, L, T3, P và K1 sử dụng ma túy. Khi đang sử dụng ma tuý thì bị Công an thành phố Đ bắt quả tang, thu giữ 02 viên ma tuý còn lại và các dụng cụ khác. Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với người sử dụng ma túy ngay sau khi bị bắt quả tang, cho thấy: Trần Trọng T, Phạm Đinh L, Trương Quốc T3, Hoàng Công K1, Nguyễn Đăng P đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Tại Bản kết luận giám định số 831/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận: 02 viên nén gửi đến giám định có khối lượng 0,1910 gam là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/5/2022 của Chính phủ. Việc các bị cáo cùng chuẩn bị địa điểm, ma tuý, dụng cụ để đưa ma tuý vào cơ thể người khác trái phép đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép ma tuý cho 05 người, trong đó Trương Quốc T3 16 tuổi 10 tháng nên các bị cáo Trần Trọng T, Phạm Đinh L và Lê Trọng T4 phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Riêng Trương Quốc T3 (R) phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều luật quy định khung hình phạt: Phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

Xét về tính chất hành vi, vị trí vai trò của các bị cáo:

Đây là vụ án có đồng phạm nhưng với tính chất giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhau, không có sự cấu kết chặt chẽ khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Trần Trọng T đề xuất sử dụng trái phép chất ma túy trước, chuẩn bị xẻng nên là người khởi xướng. Phạm Đinh L là người chủ động cung cấp ma tuý, Trương Quốc T3 chủ động dùng nhà ở làm địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chuẩn bị chai nhựa, bật lửa, Lê Trọng T4 cung cấp tờ tiền làm công cụ phương tiện. Nên, xác định vai trò của bị cáo T cao hơn là người khởi xướng, chủ động chuẩn bị công cụ, phương tiện; bị cáo L và T3 có vai trò chủ động thực hành tích cực, cung cấp công cụ phương tiện chính để thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo T4 là người giúp sức có vai trò thứ yếu.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm, không những xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất các chất ma túy, mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây hủy hoại sức khỏe của con người, là nguy cơ làm gia tăng các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, an ninh chính trị tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử các bị cáo nghiêm minh và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo; bố của T có nhiều thành tích trong công tác, được Chủ tịch nước tặng thưởng nhiều huy chương Chiến sỹ vẻ vang; ông nội, ông ngoại của Phạm Đinh L được Chủ tịch nước tặng thưởng huy chương Chiến sỹ vẻ vang và Huân chương quân công; gia đình bị cáo T3 có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Lê Trọng T4 chỉ cung cấp tờ tiền 5.000 đồng làm ống hút, không tham gia vai trò giúp sức nào khác và không sử dụng chất ma tuý, nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết: Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; bị cáo T, Long T6 được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51; bị cáo T4 được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Trương Quốc T3 và Lê Trọng T4 đều dưới 18 tuổi nên cần áp dụng thêm Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự về chính sách của pháp luật hình sự với người chưa thành niên phạm tội. Bị cáo Lê Trọng T4 có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo đồng phạm với vai trò giúp sức thứ yếu nên cần áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo ở dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

Tính đến ngày xét xử sơ thẩm thời hạn tạm giam của các bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần phải tiếp tục ban hành quyết định tạm giam để đảm bảo thi hành án.

Đối với Nguyễn Đăng P và Hoàng Công K1 là người được mời sử dụng trái phép chất ma túy (người thụ hưởng), không có các hành vi giúp sức các bị cáo trong việc tố chức sử dụng trái phép chất ma túy Công an thành phố Đ ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (tại các Quyết định số 202, 203/QĐ-XPHC ngày 25/10/2024) về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" là đúng pháp luật.

Phạm Đinh L khai mua ma túy của một người thanh niên không rõ nhân thân. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

Ma tuý là vật cấm lưu hành, bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bị ký hiệu QTS 831; 04 mảnh giấy bạc; 01 chai nhựa trong suốt cao khoảng 21cm, cách đáy chai 5,5cm; 01 bật lửa; cây kéo có cán màu vàng dài 23cm; 01 dĩa sứ màu trắng đường kính 1 cm, cao 2,5 cm có in hình bông hoa màu đỏ giữa dĩa và 01 đoạn ống nhựa trong suốt dài 6,8 cm, đường kính miệng 0,8cm không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy;

Tiền Ngân hàng N2 mệnh giá 5.000 đồng đang lưu hành là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước;

Điện thoại và các xe mô tô, là phương tiện, tài sản cá nhân không sử dụng và hành vi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, cụ thể:

+ Trả lại cho Nguyễn Đăng P: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu đỏ, số IMEI: 352997094861029, đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho Hoàng Công K1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng đồng, số IMEI: 357270095181689, đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Phạm Đinh L: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, màu đen, số IMEI: 353887103353168 và 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu xanh bạc, mang biển số 74C1-473.18; số khung RLHKF4103LZ033815; số máy KF41E0093230 đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Trần Trọng T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen, số IMEI: 353106101404869 và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, mang biển số 74C1-509.68; số khung RLCUE3740NY 179279; số máy E32VE713791 đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Lê Trọng T4: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s, màu bạc, số IMEI: 356139095365926, đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Trương Quốc T3: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu xám, số IMEI: 355790073906338, đã qua sử dụng.

Nhưng cần tạm giữ của các điện thoại của các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát đã trả lại cho: Bà Nguyễn Thị Ngọc H3 01 xe mô tô Skyway màu nâu, mang biển kiểm soát 29N1-2957, số khung LWAXCGL32YA866086; số máy LC150FMG01866086; bà Võ Thị H1 (mẹ của Trương Quốc T3) 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu đỏ đen, mang biển kiểm soát 74B1-072.92, số máy JF18E5318240; số khung RLHJF18078Y712340 và chị Trần Thị N1 (bạn của Lê Trọng T4) 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ nâu đen, mang biển kiểm soát 74C1-486.83, số khung RLHJK0315MZ374950; số máy JK03E6087127; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Trọng T, Phạm Đinh L, Trương Quốc T3 (tên gọi khác: R) và Lê Trọng T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Trọng T: 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù.

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Đinh L: 07 (B) năm tù.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 101; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trương Quốc T3 (tên gọi khác: R): 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù.

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 101; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Trọng T4: 20 (Hai mươi) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày các bị cáo bị bắt tạm giữ 10/7/2024.

2. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:

+ Tịch thu sung nộp Ngân sách Nhà nước: 01 tờ tiền Ngân hàng N2 mệnh giá 5.000 đồng.

+ Tịch thu và tiêu hủy: Số ma túy và toàn bộ bao gói hoàn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bị ký hiệu QTS 831 bên ngoài có chữ ký của những người niêm phong và hình dấu của Phòng K2; 04 mảnh giấy bạc; 01 chai nhựa trong suốt cao khoảng 21cm, cách đáy chai 5,5cm; 01 bật lửa; cây kéo có cán màu vàng dài 23cm; 01 dĩa sứ màu trắng đường kính 1 cm, cao 2,5 cm có in hình bông hoa màu đó giữa dĩa và 01 đoạn ống nhựa trong suốt dài 6,8 cm, đường kính miệng 0,8cm.

+ Trả lại cho Nguyễn Đăng P: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8, màu đỏ, số IMEI: 352997094861029, đã qua sử dụng.

+ Trả lại cho Hoàng Công K1: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, màu vàng đồng, số IMEI: 357270095181689, đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Phạm Đinh L: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max, màu đen, số IMEI: 353887103353168 và 01 xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu xanh bạc, mang biển số 74C1-473.18; số khung RLHKF4103LZ033815; số máy KF41E0093230 đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Trần Trọng T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen, số IMEI: 353106101404869 và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, mang biển số 74C1-509.68; số khung RLCUE3740NY 179279; số máy E32VE713791 đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Lê Trọng T4: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s, màu bạc, số IMEI: 356139095365926, đã qua sử dụng;

+ Trả lại cho Trương Quốc T3: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, màu xám, số IMEI: 355790073906338, đã qua sử dụng.

Nhưng cần tạm giữ của các điện thoại của các bị cáo T, L, T3 và T4 để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan Điều tra Công an thành phố Đ với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà lập ngày 24/12/2024).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo chưa thành niên, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ