- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2023/HS-PT Ngày 14-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;
Ông Lê Quân Vương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 và 14 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 192/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Võ Ngọc Th do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo bị kháng nghị:
Võ Ngọc Th (tên gọi khác là L), sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: khu phố X, phường Vĩnh T, thành phố U, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thiện L và bà Hồ Ngọc D; tiền án: Ngày 05/9/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) U xử phạt 03 năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 118/2019/HS-ST (ngày 01/9/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt, ngày 22/01/2019, bị cáo chấp hành xong án phí); tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05 tháng 7 năm 2022 đến nay; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị cáo, 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Nguyên Ch và Bùi Nguyên T là anh em ruột với nhau và cùng làm nghề thuê vườn cao su để cạo mũ bán lại kiếm lời. Bùi Nguyên T có làm 01 căn chòi bạt tại lô E, đội G nông trường Visorutex thuộc ấp Ch, xã Bình M, huyện B, tỉnh Bình Dương để ở chung với em là Bùi Nguyên Ch; cả hai đều đã sử dụng ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 30/6/2022, Ch rủ T mỗi người góp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mua ma túy đá về sử dụng chung thì T đồng ý. Sau đó, Ch chạy lên nhà của Võ Ngọc Th ở xã Bình M hỏi mua 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) ma túy đá thì Th đồng ý. Sau đó, Th lấy xe máy của mẹ ruột đi đến khu vực thuộc xã Hưng H, huyện Bàu B, tỉnh Bình Dương gặp người tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) ma túy đá để về bán lại cho Ch và T. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, do mẹ Th lấy xe máy đi làm Th không có phương tiện đi giao ma túy cho Ch và T nên Th gọi điện thoại cho Bùi Quốc Ph (sinh ngày 25/7/2004, địa chỉ: ấp Long Qu, xã Long K, huyện Chợ M, tỉnh An Giang) là bạn ngoài xã hội rủ Ph đến nhà Th ở xã Bình M, huyện B chơi game thì Ph đồng ý. Sau đó, Ph điều khiển xe mô tô biển số 67L2 – 459.xx đi từ xã Đất C, huyện B đến nhà Th. Khi Ph đi đến khu vực chợ Bình M thuộc xã Bình M, huyện B thì thấy Th đang ngồi trong quán nước mía trên đường. Th kêu Ph đưa cho Th mượn xe mô tô đi công việc nhưng Ph không đồng ý, lúc này Th mới đồng ý cho Ph đi theo, Ph giao cho Th điều khiển xe. Sau đó, Th điều khiển xe mô tô biển số 67L2 – 459.xx chở Ph đi đến chòi bạt ở lô E đội G Nông trường A thuộc ấp Ch, xã Bình M để gặp T giao ma túy. Khi đến đây, Th gặp T đang ở trong chòi bạt rồi Th lấy 01 (một) túi nylon chứa ma túy đá đưa cho T thì T kêu Th chia túi nylon chứa ma túy ra thành 04 phần nhỏ bỏ vào 04 túi nylon để T cất giấu thì Th đồng ý. Th chia nhỏ ma túy rồi bỏ vào bên trong khẩu trang y tế màu xanh treo ở gốc cột đầu võng trong chòi. Trong lúc chia ma túy ra thành 04 túi nylon nhỏ thì Th tự ý chừa lại một phần để bỏ vào nỏ thủy tinh của bộ dụng cụ sử dụng có sẵn trong chòi của T và Ch để Th sử dụng. Sau đó, Th đốt ma túy lên và sử dụng một ít. T, Ph thấy vậy cũng vào tự đốt ma túy để sử dụng. Lúc này, Ch đi công việc về đến chòi bạc thì nhìn thấy T, Ph đang nằm võng, Ch vào chòi tự ý lấy nỏ thuỷ tinh ra sử dụng ma tuý còn lại. Trong khi Ch đang sử dụng ma túy thì có Nguyễn Thị Thắm (sinh năm 1989, địa chỉ: ấp Thạnh Ph, xã Thạnh B, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh là bạn gái của Ch) đến chòi bạt để chơi nên Ch cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Lúc này, Th, T, Ph đang nằm võng trong chòi. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Ch điều khiển xe mô tô chở Th ra khỏi chòi để đi tìm nấm mối trong lô cao su. Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 30/6/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã Bình M, huyện B kiểm tra hành chính trong chòi bạt của T. Nhìn thấy lực lượng Công an, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và khẩu trang y tế màu xanh bên trong chứa ma túy ném ra khỏi chòi bạt thì bị lực lượng công an phát hiện và thu giữ. T khai nhận chất tinh thể màu trắng bên trong khẩu trang y tế là ma túy đá của T và Ch mua của Th cất giữ để sử dụng chung nên lực lượng công an niêm phong vật chứng và đưa T về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ đồ vật gồm:
- 04 (bốn) túi nylon hàn kín hai đầu bên trong đều có chứa chất tinh thể màu trắng (đã được niêm phong);
- 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh đã qua sử dụng;
- 01 (một) bình thủy tinh có nắp nhựa màu đỏ bị đục thủng hai lỗ;
- 01 (một) đoạn ống hút màu xanh;
- 01 (một) ống thủy tinh dạng phễu được thổi phòng một đầu;
- 01 (một) cái bật lửa đã qua sử dụng;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen bị nứt màng hình của Bùi Nguyên T;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen nắp lưng màu hồng.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen biển số 67L2- 459.xx, số khung JA39E-152XXXX, số máy RLHJA3910LY184XXX của Bùi Quốc Ph;
Công an xã Bình M tiến hành bàn giao T cùng hồ sơ, vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thụ lý theo thẩm quyền.
Trên cơ sở lời khai ban đầu của T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Võ Ngọc Th và thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen nắp lưng màu hồng của Võ Ngọc Th.
Tại Bản Kết luận giám định số 324/MT-PC09 ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Chất tinh thể màu trắng chứa trong 04 (bốn) túi nylon hàn kín hai đầu thu giữ của Bùi Nguyên T và Bùi Nguyên Ch gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng 0,7958 gam, loại Methamphetamine.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen biển số 67L2- 459.xx, số khung JA39E-152XXXX, số máy RLHJA3910LY184XXX do bà Bùi Thị Mỹ L2 (sinh năm 1979, địa chỉ: ấp Long Qu, xã Long K, huyện Chợ M, tỉnh An Giang) là mẹ ruột của Bùi Quốc Ph đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Ngày 30/6/2022, Ph mượn xe này của bà L2 đi công việc. Việc Ph điều khiển xe này đi gặp Võ Ngọc Th rồi giao xe này cho Th điều khiển đến chòi bạt ở lô E đội G Nông trường A thuộc ấp Ch, xã Bình M để gặp Ch và T bán ma túy đá bà L2 không biết. Ngày 25/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra Quyết định xử lý vật chứng số 32 trả lại xe này cho bà L2 ngày 26/10/2022.
- 01 (một) bìa thư được niêm phong có đóng dấu của cơ quan giám định bên trong có chứa 0,6121 gam ma túy loại Methamphetamine được hoàn lại kèm theo kết luận giám định số 324/MT-PC09 ngày 06/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.
- 01 (một) khẩu trang y tế màu xanh đã qua sử dụng thu giữ trong quá trình điều tra là dụng cụ các bị can dùng cất giấu ma túy để sử dụng.
- 01 (một) bình thủy tinh có nắp nhựa màu đỏ bị đục thủng hai lỗ; 01 (một) đoạn ống hút màu xanh, 01 (một) ống thủy tinh dạng phễu được thổi phòng một đầu cùng 01 (một) cái bật lửa đã qua sử dụng thu giữ trong quá trình điều tra là dụng cụ các bị can dùng để sử dụng ma túy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen bị nứt màng hình và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen nắp lưng màu hồng thu giữ của Bùi Nguyên T và Võ Ngọc Th trong quá trình điều tra là tài sản cá nhân của T và Th, các bị cáo không sử dụng điện thoại này để liên lạc với nhau trong việc mua bán ma túy.
Ngày 30/6/2022 tại ấp Ch, xã Bình M, huyện B, tỉnh Bình Dương, Bùi Nguyên T và Bùi Nguyên Ch có hành vi tàng trữ trái phép 0,7958 gam ma túy, loại Methamphetamine vừa mua của Võ Ngọc Th để sử dụng cá nhân thì bị bắt quả tang. T có hành vi sử dụng địa điểm và cung cấp bộ dụng cụ, Th cung cấp ma túy vào bộ dụng cụ để Th cùng T, Bùi Quốc Ph và Ch sử dụng.
Tại Bản cáo trạng số 32/CT-VKS-BTU ngày 07/6/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Võ Ngọc Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Bùi Nguyên T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Bùi Nguyên Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc Th (tên gọi khác L) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Ngọc Th 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.Tổng hợp hình phạt của 02 tội, bị cáo phải chấp hành chung là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/7/2022.
Ngoài ra còn tuyên về hình phạt của Bùi Nguyên T, Bùi Nguyên Ch; tuyên về biện pháp tư pháp, án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo, người tham gia tố tụng khác.
Ngày 21/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương có Quyết định số 17/QĐ-VKSND về việc kháng nghị phúc thẩm Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương theo hướng chuyển khung, tăng hình phạt đối với bị cáo Võ Ngọc Th đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Ngày 30/6/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo T và Ch bàn bạc cùng nhau mỗi người góp 300.000 đồng để mua ma túy đá về sử dụng chung, bị cáo Ch là người trực tiếp gặp bị cáo Th để hỏi mua 600.000 đồng ma túy đá thì Th đồng ý. Sau đó, bị cáo Th đến gặp đối tượng tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 600.000 đồng ma túy đá để bán lại cho bị cáo Ch và T. Khi có ma túy, bị cáo Th điều khiển xe mô tô của Bùi Quốc Ph chở Ph đến chòi bạt nơi bị cáo T và Ch ở. Tại đây, bị cáo Th gặp bị cáo T và đưa ma túy cho T. Trong quá trình điều tra, bị cáo Th khai biết việc bị cáo Ch và T hùn tiền mua ma túy về sử dụng chung nên mặc dù người trực tiếp liên hệ với bị cáo Th để mua ma túy là bị cáo Ch nhưng bị cáo Th vẫn giao ma túy cho bị cáo T phù hợp với lời khai của Bùi Nguyên T, Bùi Nguyên Ch và lời khai người làm chứng Ph tại các bút lục 13, 48, 49, 127, 128, 146, 147, 249, 250, 187, 188, 251, 252, 307, 308, 309.
Như vậy, có cơ sở xác định bị cáo Th ý thức được việc mình đang có hành vi cùng một lúc bán 600.000 đồng ma túy cho bị cáo Ch và T để sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại biên bản phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo khai nhận không bị bức cung, dùng nhục hình, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra phù hợp với nhau nên kết quả điều tra là có căn cứ. Ngoài ra, Bản Kết luận điều tra đề nghị truy tố, Bản Cáo trạng và Bản án hình sự sơ thẩm đều xác định, kết luận, nhận định ngày 30/6/2022 tại chòi bạt ở ấp Ch, xã Bình M, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị cáo Võ Ngọc Th có hành vi bán 600.000 đồng ma túy loại Methamphetamine cho bị cáo Bùi Nguyên T, Bùi Nguyên Ch để sử dụng.
Tuy nhiên, các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Võ Ngọc Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, dẫn đến xử phạt bị cáo 03 năm tù là nhẹ so với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, kháng nghị số 17 ngày 21/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Võ Ngọc Th là có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng nghị số 17 ngày 21/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Võ Ngọc Th; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương: Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 và xử phạt bị cáo Th với mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bị cáo không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương cho bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Võ Ngọc Th cho rằng bị cáo chỉ bán ma túy cho Bùi Nguyên Ch, không bán cho Bùi Nguyên T nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 30/6/2022, do muốn sử dụng ma túy nên Bùi Nguyên T và Bùi Nguyên Ch bàn bạc cùng nhau mỗi người góp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng để mua ma túy về sử dụng chung. Bùi Nguyên Ch là người trực tiếp gặp bị cáo Võ Ngọc Th để hỏi mua 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng ma túy thì Th đồng ý. Sau đó, Võ Ngọc Th đến gặp đối tượng tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 600.000 đồng ma túy để bán lại cho Bùi Nguyên Ch, Bùi Nguyên T. Khi có ma túy, Th điều khiển xe môtô của Bùi Quốc Ph chở Ph đến chòi bạt nơi T và Ch ở. Tại đây, bị cáo Th gặp T và đưa ma túy cho T.
Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận chỉ bán ma túy cho Bùi Nguyên Ch nhưng trong quá trình điều tra, Võ Ngọc Th khai nhận biết Bùi Nguyên Ch và Bùi Nguyên T hùn tiền mua ma túy về sử dụng chung, thể hiện qua các biên bản hỏi cung bị can tại các bút lục 127, 128, 251, 252, 353, 354; phù hợp với việc bị cáo đã giao và chia ma túy theo yêu cầu của Bùi Nguyên T khi Bùi Nguyên Ch không có mặt tại chòi bạt; phù hợp với lời khai của Bùi Nguyên T tại các bút lục 13, 48, 49, 249, 250 và lời khai của Bùi Nguyên Ch tại các bút lục 307, 308, 309. Như vậy, có cơ sở xác định ngày 30/6/2022 bị cáo Th có hành vi bán trái phép 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng ma túy cho Bùi Nguyên Ch và Bùi Nguyên T sử dụng.
Do đó, hành vi của bị cáo Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo Võ Ngọc Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc chuyển khung, tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Võ Ngọc Th là có căn cứ chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Dương như sau:
Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc Th (tên gọi khác là L) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc Th 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, bị cáo Võ Ngọc Th phải chấp hành chung là 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 05 tháng 7 năm 2022.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Võ Ngọc Th không phải nộp.
3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ GĐKT 1); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân huyện B (02); - Viện kiểm sát nhân huyện B ; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện B; - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương; - Công an huyện B (01); - Bị cáo; - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú (01); - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT, NTS, 20. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Sang |