- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị M- Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b Khoản 1, Khoản 4 Điều 190; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 168/2022/HS-ST Ngày: 22 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Trần Thanh Thư.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Trần Văn Bình.
+ Ông Trần Hoàng Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh M Hằng- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đào Nhã Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 154/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị M, sinh năm 1974 tại Ninh Thuận.
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 2, phường MH, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); Có chồng ông Bùi Hoàng S và 03 người con;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Bùi Hoàng S, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Khu phố 2, phường MH, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.
Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 00 phút, ngày 25/7/2022, Công an TP. P, tiến hành kiểm tra tiệm tạp hóa “M Sơn tại địa chỉ 63 đường Hải Thượng Lãn Ông, thuộc khu phố 2, phường M Hải, TP P do Nguyễn Thị M làm chủ. Quá trình kiểm tra, phát hiện trong tiệm tạp hóa có 198 cây (1.980 bao) thuốc lá điếu các loại do nước ngoài sản xuất và không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ, cụ thể: 163 cây thuốc lá JET (1.630 bao); 34 cây thuốc lá SCOTT (340 bao); 01 cây thuốc lá HERO (10 bao). Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị M về hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu và niêm phong tạm giữ toàn bộ số thuốc lá trên.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị M khai nhận số lượng thuốc lá Cơ quan Công an đã thu giữ là do M mua vào ngày 23/7/2022 của một người phụ nữ khoảng 40 tu i (không rõ nhân thân, lai lịch) đến tiệm tạp hóa của M chào bán với giá từng loại thuốc lá như sau: JET giá 200.000 đồng/ cây, SCOTT giá 150.000 đồng/ cây, HERO giá 180.000 đồng/ cây.T ng cộng số thuốc lá trên M mua với số tiền là: 37.880.000 đồng, M mua và bán lại kiếm lời.
Cáo trạng số: 148/CT-VKSPRTC ngày 10/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Buôn bán hàng cấm theo điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Buôn bán hàng cấm .
- Áp dụng: Điểm b Khoản 1 Điều 190; s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi) khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
-Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 198 cây (1.980 bao) thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó: 163 cây thuốc lá JET (1.630 bao); 34 cây thuốc lá SCOTT (340 bao); 01 cây thuốc lá HERO (10 bao).
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối cải, không dám phạm tội nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có cơ sở xác định: Nguyễn Thị M đã mua các loại thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn chứng từ với t ng số lượng là 1.980 bao thuốc lá điếu nhập lậu để bán kiếm lời. Thuốc lá điếu thành phẩm nhập lậu mà bị cáo buôn bán thuộc danh mục hàng cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật. Do đó Cáo trạng số: 148/CT-VKSPRTC ngày 10-10-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm đã truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm thuộc trường hợp buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao đến dưới 3.000 bao theo điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi, biết được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do tư lợi nên vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước.
Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo lầm đầu phạm tội, có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, đồng thời phạt b sung đối với bị cáo cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 198 cây (1.980 bao) thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó: 163 cây thuốc lá JET (1.630 bao); 34 cây thuốc lá SCOTT (340 bao); 01 cây thuốc lá HERO (10 bao) là hàng hóa bị Nhà nước cấm kinh doanh, lưu thông nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với anh Bùi Hoàng Sơn (chồng của Nguyễn Thị M), anh Sơn không quản lý việc kinh doanh của tiệm tạp hóa “M Sơn , không biết việc M cất giấu thuốc lá điếu nhập lậu để bán. Cơ quan điều tra không đề nghị xử lý là có căn cứ.
Đối với người phụ nữ đã bán thuốc lá điếu nhập lậu cho Nguyễn Thị M, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác M làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội, định khung hình phạt; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề xuất hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm b Khoản 1, Khoản 4 Điều 190; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
1.1 Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Buôn bán hàng cấm .
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M 15 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 22-11-2022).
Giao bị cáo Nguyễn Thị M cho Ủy ban nhân dân phường MH, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận là nơi bị cáo đang cư trú quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
1.2 Phạt b sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng: Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 198 cây (1.980 bao) thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó: 163 cây (1.630 bao) thuốc lá JET; 34 cây (340 bao) thuốc lá SCOTT; 01 cây (10 bao) thuốc lá HERO.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-11-2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang-Tháp Chàm và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm; có mặt bị cáo; quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Tp. PR-TC; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - CQĐT Công an Tp. PR-TC; - CQTHAHS Công an Tp. PR-TC; - Chi cục THADS Tp. PR-TC; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - TAND tỉnh Ninh Thuận; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Trần Thanh Thƣ |