vanban.org

Bản án 167/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 29/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Phạm Hoàng H, Trần Trung H1 phạm tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Văn L 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/03/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 167/2023/HSST
Ngày 29/8/2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Trần Trung Trực

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị An

2. Ông Nguyễn Văn Đức

- Thư ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện ĐA.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: ông Nguyễn Xuân Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 29/8/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 178/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh 30/01/2002, tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi cư trú: thôn ĐD, xã DT, huyện ĐA, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1; Về nhân thân: theo trích lục tiền án, tiền sự số 5908499/2023/PV06 ngày 05/5/2023 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, có 01 tiền sự: Tại Quyết định số 445912/QĐ-XPHC ngày 04/03/2021, Công an huyện ĐA, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng (đã được xóa).

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp tạm giữ từ ngày 24/03/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

2. Họ và tên: Phạm Hoàng H, sinh ngày 19/10/2002, tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi cư trú: thôn TB, xã ML, huyện ĐA, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông: Phạm Hồng D và bà Phạm Thị T3; Về nhân thân: theo trích lục tiền án, tiền sự số 5908277/2023/PV06 ngày 05/5/2023 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, có 04 tiền sự:

- Tại Quyết định số 445921/QĐ-XPHC ngày 20/5/2021, Công an huyện ĐA xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Có cử chỉ, lời nói thô bạo khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác (đã được xóa);

- Tại Quyết định số 866628/QĐ-XPHC ngày 04/10/2021, Công an huyện ĐA xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác và giao xe cho người không đủ điều kiện tham gia giao thông (đã được xóa);

- Tại Quyết định số 445940/QĐ-XPHC ngày 18/11/2021, Công an huyện ĐA xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Xâm hại sức khỏe của người khác (đã được xóa);

- Tại Quyết định số 709/QĐ-XPHC ngày 14/11/2022, Công an huyện ĐA xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (chưa được xóa).

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp tạm giữ từ ngày 24/03/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

3. Họ và tên: Trần Trung H1, sinh ngày 14/5/2004, tại HY; giới tính: nam; Nơi thường trú: Số 15, đường NT, phường HC, thành phố HY, tỉnh HY; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông: không xác định, con bà Trần Thị H2; Về nhân thân: theo trích lục tiền án, tiền sự số 5908566/2023/PV06 ngày 31/5/2023 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, có 03 tiền sự:

- Tại Quyết định số 445922/QĐ-XPHC ngày 20/5/2021, Công an huyện ĐA xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng (đã được xóa);

- Tại Quyết định số 866629/QĐ-XPHC ngày 04/10/2021, Công an huyện ĐA xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác (đã được xóa);

- Tại Quyết định số 413/QĐ-XPHC ngày 24/02/2023, Ủy ban nhân dân tỉnh HY xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ (chưa được xóa).

Bị cáo bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp tạm giữ từ ngày 24/03/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 23/3/2023, Nguyễn Thiện D (sinh: 1997, Trú tại: thôn ĐD, xã DT, huyện ĐA, thành phố Hà Nội) gọi điện thoại cho Nguyễn Văn L rủ L đi hát karaoke, uống bia cùng D và hẹn khi nào có địa điểm hát sẽ báo cho anh D biết. Sau khi nói chuyện với anh D xong L nảy sinh ý định sẽ sử dụng ma túy trong khi hát nên đã gọi điện thoại cho Phạm Hoàng H và Phạm Trường Sơn (sinh năm: 2000; Trú tại: thôn ĐD, xã DT, ĐA) thông qua ứng dụng Messenger rủ đi hát và sử dụng ma túy. Sau đó, L đến quán bi-a trong thôn ĐD, xã DT, huyện ĐA đón H và Sơn. Theo bị cáo L khai: Để có ma túy để sử dụng L đã gọi điện và nhắn tin đến tài khoản Messenger “CHỈNH NGU” của nam giới tên Chỉnh ở Dục Nội, xã Việt Hùng, huyện ĐA đặt vấn đề mua của Chỉnh 01 chỉ ma túy Ketamine với giá 1.500.000đ. Chỉnh đồng ý và bảo L đến khu vực gần UBND xã Việt Hùng (gần nhà Chỉnh) để giao dịch mua bán ma túy. Khi đến nơi, L được Chỉnh hướng dẫn đến vị trí gốc cây đa ở ven đường cạnh cổng nhà Chỉnh và thấy 02 túi ma túy Ketamine được để sẵn dưới gốc cây (Lượng hẹn sẽ trả tiền cho Chỉnh sau), L cầm và cất giấu vào người rồi quay về quán bia để đón H và Sơn. Khi gặp H, L bảo H đặt phòng hát để cả bọn đến sử dụng ma túy. Sau đó H gọi điện vào tài khoản Messeger của anh Trần Quang Huy (sinh: 2005; Trú tại: Xóm 7, thôn Tráng Việt, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) rồi nhờ anh Huy bật loa ngoài để bảo Trần Trung H1 (là quản lý của quán Karaoke Moo 1 tại thôn ĐD, xã DT, huyện ĐA) chuẩn bị cho một phòng hát. Lúc này Sơn đi về nhà cất xe máy, còn L và H đi xe máy của H đến quán karaoke Moon 1 trước. Trên đường đi, L báo cho D biết địa điểm quán hát. Khi đi đến quán karaoke Moon 1 thì L đi vào còn H quay về đón Sơn. Khoảng 10 phút sau đó thì H cùng Sơn và Ma Thị Chinh (sinh: 2006; Trú tại: Thôn Tú Tạc, xã Tú Thịnh, huyện Sơn D, tỉnh Tuyên Quang, là bạn của H) đến quán Karaoke Moon 1. Đến nơi H1 dẫn cả nhóm lên phòng hát số 1 tại tầng 2 của quán. Tại đây L bảo H lấy đĩa sứ để sử dụng ma túy, H đi ra ngoài cầu thang và nói vọng xuống bảo H1 mang đĩa sứ lên phòng. Thấy khách gọi đĩa sứ thì H1 biết là khách sẽ sử dụng ma túy trái phép trong phòng hát, H1 cầm 01 đĩa sứ và 01 thẻ nhựa mang lên phòng hát số 1 cho nhóm của L làm dụng cụ sử dụng ma túy. Sau khi H1 cầm đĩa và thẻ nhựa lên, L bỏ 02 túi ma túy ketamine ra, cho một ít lên đĩa rồi dùng thẻ nhựa xào ma túy ketamine. Xào ma túy xong, L tiếp tục bảo H đưa cho L 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ để L quấn tẩu hút cho cả nhóm sử dụng ma túy. Sau khi quấn tẩu xong, L để tẩu hút trên đĩa chứa ma túy ketamine rồi để trên mặt bàn để mọi người sử dụng. Lúc này lần lượt Sơn, H và L sử dụng ma túy rồi cùng nhau nghe nhạc còn D và Chinh không sử dụng ma túy. Một lúc sau thì D đi về trước còn lại cả nhóm tiếp tục cùng nhau nghe nhạc trong phòng hát số 01. Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 24/3/2023 thì lực L Công an huyện ĐA đến kiểm tra và phát hiện, lập biên bản tạm giữ, niêm phong vật chứng rồi đưa các đối tượng về trụ sở để tiếp tục làm việc.

* Vật chứng tạm giữ:

- Tạm giữ tại phòng hát số 01: 02 túi nilon màu trắng (01 túi kích thước (2,5x2)cm và 01 túi kích thước (3x3,5)cm) bên trong đều có chứa tinh thể màu trắng (Lượng khai là ma túy của L chuẩn bị để cả bọn sử dụng); 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 25cm trên mặt đĩa có tinh thể màu trắng, 01 thẻ nhựa màu vàng và 01 tẩu hút tự tạo được quấn từ tờ tiền mệnh giá 10.000đ.

- Tạm giữ của quán karaoke Moon 1: 01 loa âm thanh màu đen có nhãn hiệu(logo) SOUNDKING.

- Tạm giữ của Nguyễn Văn L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp kèm sim số thuê bao: 0865856519.

- Tạm giữ của Phạm Hoàng H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp kèm sim số thuê bao: 0932892002 và số tiền 1.300.000đ.

- Tạm giữ của Phạm Trường Sơn: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp kèm sim số thuê bao: 0865285822; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia lắp kèm sim số thuê bao: 0987472000 và số tiền 200.000đ.

- Tạm giữ của Ma Thị Chinh: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp kèm sim số thuê bao: 0344779528 và số tiền 1.200.000đ.

- Tạm giữ của Trần Trung H1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp kèm sim số thuê bao: 0374181479 và số tiền 7.600.000đ.

- Tạm giữ của Trần Quang Huy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp kèm sim số thuê bao: 0982529410.

Ngoài ra, tại thời điểm kiểm tra quán karaoe Moon 1 phát hiện trong phòng hát số 3 có Phạm Anh Tú (sinh năm: 2000; Trú tại: Thôn Trung Thôn, xã Đông Hội, huyện ĐA) đang nằm ngủ. Quá trình kiểm tra hành chính phòng hát số 3 và khám người theo thủ tục hành chính đối với Tú lực L Công an không phát hiện thu giữ gì.

Tại Bản kết luận giám định số 1864/KL-KTHS ngày 31/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối L: 1,233 gam.

- Tinh thể thu trên 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng là ma túy loại Ketamine khối L: 0,239 gam.

- 01 tẩu hút tự tạo được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 Việt Nam đồng, 01 thẻ nhựa màu vàng đều có dính ma túy loại Ketamine.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Văn L, Phạm Hoàng H, Phạm Trường Sơn và anh Phạm Anh Tú đều D tính với chất ma túy.

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng Nguyễn Văn L, Phạm Hoàn H và Trần Trung H1 thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm nêu trên phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án.

Đối với Nguyễn Thiện D, Ma Thị Chinh, Trần Quang Huy và chị Trần Thị Ngọc Ánh (sinh: 1993, trú tại: thôn TB, xã ML, huyện ĐA, là chủ quán Karaoke Moon 1) kết quả điều tra xác định không liên quan đến hành vi vi phạm của các đối tượng; Chị Ánh trình bày việc H1 tự ý cho khách đến hát rồi cho khách sử dụng ma túy tại phòng hát thì chị Ánh không biết do quán chưa đủ điều kiện hoạt động phù hợp với lời khai của H1 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Phạm Trường Sơn đã có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện ĐA đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức Cảnh cáo.

Đối với Phạm Anh Tú quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi vi phạm của các đối tượng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Việc Phạm Anh Tú có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra tiến hành thông báo cho chính quyền địa phương nơi Tú cư trú để có biện pháp giáo dục, quản lý.

Đối với nam giới tên “Chỉnh” đã bán ma túy cho L vào đêm 23 rạng sáng ngày 24/3/2023 tại thôn Dục Nội, xã Việt Hùng, huyện ĐA. Kết quả xác định là Nguyễn Đình Chỉnh (sinh năm: 2002; Trú tại: thôn Dục Nội, xã Việt Hùng, huyện ĐA). Quá trình điều tra, chỉ có L khai mua ma túy của Chỉnh không có tài liệu nào khác xác định L mua ma túy của Chỉnh, Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập đến làm việc nhưng Chỉnh vắng mặt tại nơi cư trú, gia đình và chính quyền địa phương không biết Chỉnh đi đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra tiến hành tách phần tài liệu liên quan đến đối tượng Nguyễn Đình Chỉnh để giải quyết theo trình tự tin báo về tội phạm, tiếp tục xác minh làm rõ.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH, BKS: 29S1- 84328 và số tiền 1.300.000đ tạm giữ của Phạm Hoàng H. Kết quả điều tra xác định, chiếc xe máy BKS: 29S1- 84328 là tài sản hợp pháp của anh Phạm Quang Đại (sinh: 1988; Trú tại: thôn TB, xã ML, huyện ĐA, là anh trai H). Chiếc xe trên và số tiền 1.300.000đ tạm giữ của H có nguồn gốc rõ ràng không liên quan đến việc các đối tượng có hành vi vi phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện ĐA đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho bà Phạm Thị T3 (trú: 1976; Trú tại: thôn TB, xã ML, huyện ĐA, là mẹ của anh Đại và H).

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone bên trong lắp sim số thuê bao 0344779528 và số tiền 1.200.000đ tạm giữ của Ma Thị Chinh; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia bên trong lắp sim số thuê bao 0987472000 và số tiền 200.000đ tạm giữ của Phạm Trường Sơn; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone bên trong lắp sim số thuê bao 0982529410 tạm giữ của Trần Quang Huy; 01 loa âm thanh tạm giữ của quán Karaoke Moon 1. Quá trình điều tra xác định, các tài sản trên có nguồn gốc sở hữu rõ ràng, không liên quan đến hành vi vi phạm của các đối tượng trong vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện ĐA đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho các chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone và số tiền 7.600.000đ tạm giữ của Trần Trung H1, kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của H1 và số tiền này do H1 vay của bà Trần Thị H2 (sinh: 1980; Trú tại: 15 NT, HC, thành phố HY, tỉnh HY, mẹ của H1) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện ĐA đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho bà Trần Thị H2 quản lý.

Cáo trạng số 165/CT-VKSĐA ngày 07/8/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA đã quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L, Phạm Hoàng H, Trần Trung H1 về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Nguyễn Văn L, Phạm Hoàng H, Trần Trung H1 khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm b, Khoản 2, Điều 255; Điểm s, Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn L từ 08 năm 03 tháng đến 08 năm 06 tháng tù.

- Bị cáo Phạm Hoàng H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

- Bị cáo Trần Trung H1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo vì là con nghiện, không nghề nghiệp ổn định.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu, hủy vật chứng của vụ án là: 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa và 0,214 gam ma túy loại Ketamine (còn lại sau giám định); 01 phong bì (dùng để đựng tẩu hút cuồn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng); 01 phong bì niêm phong trên trong có chứa 1,187 gam ma túy loại Ketamine (còn lại sau giám định); 03 sim điện thoại.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 03 điện thoại nhãn hiện Iphone và tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (dùng để quấn tẩu đựng trong 01 phong bì).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện ĐA thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an ĐA, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[2] Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Tối ngày 23/3/2023, Nguyễn Văn L có đi mua ma túy Ketamine của một người đàn ông tên Chỉnh thông qua tài khoản Messenger “Chỉnh Ngu” với giá 1.500.000 đồng rồi gọi điện và đi đến quán Bia ở thôn ĐD, xã DT, huyện ĐA đón Phạm Hoàng H, Phạm Trường Sơn đến quán Karaoke Moon 1 ở cùng thôn để cùng hát và sử dụng ma túy. H có liên hệ với H1 để đặt phòng hát để sử dụng ma túy. Tại phòng hát số 01 của quán Karaoke, H đưa cho L tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng để quấn tẩu để sử dụng ma túy, còn H gọi Trần Trung H1 mang cho 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa để xào ma túy. H1 biết việc H gọi đĩa sứ và thẻ nhựa là để sử dụng ma túy. Sau đó, L, H, Sơn cùng nhau sử dụng ma túy và nghe nhạc cho đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 24/3/2023 thì bị cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ.

Như vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L, Phạm Hoàng H và Trần Trung H1 đã phạm tội: Tổ chức trái phép chất ma túy, được quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 255 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:...

b) Đối với 02 người trở lên;”...

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng có nhân thân xấu.

[4] Hành vi Tổ chức sử dụng trái phép ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và chất gây nghiện khác, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và các loại tội phạm khác trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, huyện ĐA nói riêng. Ma túy với một tác hại khôn lường do sức tàn phá của nó đối với người sử dụng và cộng đồng, chính vì vậy mà Nhà nước và cả xã hội ra sức đấu tranh, bài trừ. Khi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, Do đó, căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Bị cáo L là người trực tiếp đi mua ma túy và khỏi xướng rủ H cùng những người khác sử dụng ma túy nên có vai trò cao hơn bị cáo H, bị cáo H1 là người giúp sức tích cực theo chỉ đạo của L nên cần buộc bị cáo L phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo bị cáo H, bị cáo H1. Bị cáo H1 có vai trò thấp hơn bị cáo H nên phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo H là phù hợp. Bị cáo Lương, bị cáo H phải như mức hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng. Bị cáo H1 có vai trò thấp hơn nên xử phạt bị cáo H1 với mức hình phạt thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng.

Khi phạm tội các bị cáo là con nghiện, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều đã thu giữ:

- 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa và 0,214 gam ma túy loại Ketamine (còn lại sau giám định); 01 phong bì (dùng để đựng tẩu hút cuồn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng); 01 phong bì niêm phong trên trong có chứa 1,187 gam ma túy loại Ketamine (còn lại sau giám định); 03 sim điện thoại là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 03 điện thoại nhãn hiện Iphone và tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng là phương tiện, công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Phạm Hoàng H, Trần Trung H1 phạm tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

- Căn cứ vào Điểm b, Khoản 2, Điều 255; Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

+ Bị cáo Nguyễn Văn L 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/03/2023.

+ Bị cáo Phạm Hoàng H 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/03/2023.

+ Bị cáo Trần Trung H1 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/03/2023.

2. Về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 03 điện thoại nhãn hiện Iphone và tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (đựng trong 01 phong bì).

Tịch thu, tiêu hủy: 01 đĩa sứ; 01 thẻ nhựa và 0,214 gam ma túy loại Ketamine (còn lại sau giám định); 01 phong bì; 01 phong bì niêm phong trên trong có chứa 1,187 gam ma túy loại Ketamine (còn lại sau giám định); 03 sim điện thoại.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/8/2023 giữa Công an huyện ĐA và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA, thành phố Hà Nội).

Các bị cáo Nguyễn Văn L, Phạm Hoàng H, Trần Trung H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ