- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm ối v i Quyết ịnh kháng nghị phúc thẩm số 01 QĐ-VKS-TPV ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân C, tỉnh Nghệ An.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 166/2022/HS-PT Ngày: 27-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Anh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Hà
Bà Nguyễn Thị Hải Minh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Viết Ngọc - Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 183/2022 TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2022 ối v i các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A, Nguyễn Hữu H do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân C, tỉnh Nghệ An và kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A, Nguyễn Hữu H ối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 204/2022/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân C, tỉnh Nghệ An.
Bị cáo bị kháng nghị và có kháng cáo:
1. Họ và tên : Nguyễn Như S, sinh năm 1995; nơi cư trú: Xóm A, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao ộng tự do; trình ộ văn hóa: 12 12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Như K và bà Trần Thị Q; có vợ Nguyễn Thị H và có 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28 9 2021 ến nay; có mặt.
2. Họ và tên: Phạm Đức A, sinh năm 1997; nơi cư trú: Xóm A, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao ộng tự do; trình ộ văn hóa: 9 12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Đức M và bà Nguyễn Thị Th; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28 9 2021 ến nay; có mặt.
1
3. Họ và tên: Nguyễn Hữu H, sinh năm 1996; nơi cư trú: Xóm A, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao ộng tự do; trình ộ văn hóa: 12 12; dân tộc: Kinh; gi i tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hữu S và bà Đặng Thị L vợ con chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 10 2021 ếnnay;có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án ược tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 27 9 2021, Nguyễn Như S iện thoại cho Phạm Đức A hỏi "có chi dư i không (ý hỏi có ma túy á không)", A nói "hết rồi", S nói "tý nữa tau xuống phòng trọ rồi tính". Sau ó, Phạm Đức A iện thoại rủ bạn là Trần Tuấn A1 i ăn cơm trưa. Gọi iện thoại cho A xong, S iện thoại cho một nam thAh niên tên T thường gọi T con nhà ở phường A, thành phố V rồi nói "Tý em chuyển trả cho Ah số tiền 1.500.000 ồng, Ah có ma túy á không, lấy cho 300.000 ồng tiền sẽ trả sau", T nói "có gì gọi lại sau". Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Như S gọi iện thoại rủ Nguyễn Hữu H i xuống thành phố V chơi thì H ồng ý. S iều khiển xe máy i ón H, trên ường i S vào một quầy bán iện thoại bên ường nhờ chị chủ quán chuyển khoản giúp thì chị này ồng ý. S iện thoại cho T nói T ọc số tài khoản ể cho chị chủ quán chuyển số tiền 1.500.000 ồng cho T. Chuyển tiền xong, S trả 13.000 ồng tiền phí chuyển khoản rồi i ến nhà ón H rồi chở H i xuống phòng trọ của Phạm Đức A. Đến nơi, không thấy A ở trong phòng trọ nên S gọi iện thoại cho A về mở cửa. Gọi iện cho A xong, S nói H chờ A về mở cửa phòng còn S lấy xe máy i ra ường A, thành phố V gọi iện thoại cho T hỏi "tình hình thế nào", T nói "tý gọi lại cho". Sau ó, S quay về phòng trọ của A thì thấy A ã về mở cửa phòng cho H và S vào phòng trọ còn A tiếp tục i ăn cơm. Khoảng 15 phút sau, Phạm Đức A i về phòng trọ cùng v i Trần Tuấn A1 rồi tất cả ngồi nói chuyện v i nhau về việc làm shiper khoảng một tiếng ồng hồ. Khi nói chuyện, A nói "Lâu ngày làm tý hầy, ý rủ mọi sử dụng ma túy á", tất cả ồng ý. A và S i ra hành lang phòng trọ rồi A nói v i S "kiếm tý về chơi", S nói "Có rồi". Khoảng 05 phút sau, Tuấn gọi iện cho S thông báo ã có ma túy rồi nói S i lên ường A, thành phố V ể lấy ma túy. Nghe iện thoại xong, S i vào nói v i H "Đi v i tau cho vui", hiểu ý S i mua ma túy về sử dụng nên H ồng ý i cùng. S iều khiển xe máy của S chở H i lấy ma túy, trên ường i H hỏi S "Đi mô", S nói "Đi lấy cái n chi, ý nói lấy ma túy" rồi S chở H ến ường A, thành phố V. Đến nơi, S gọi iện cho T hỏi "lấy ma túy ở âu", T hư ng dẫn cho S i vào một ngõ nhỏ, i ến cột iện thứ ba sẽ thấy một bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, có gói ma túy á bên trong lại ó mà lấy. S chở H i theo hư ng dẫn của T thì thấy dư i cột iện có một bao thuốc lá Thăng Long màu vàng nên dừng xe lại. S nói v i H xuống xe giả vờ i tiểu rồi lấy bao thuốc lá Thăng Long có ma túy bên trong. H xuống xe nhặt bao lá Thăng Long có chứa ma túy bên trong cầm ở tay phải rồi lên xe máy ể S chở về phòng trọ của A. Khi ến cửa phòng trọ, H ưa bao lá
2
Thăng Long có ma túy cho S cầm, S nói H canh gác ông chủ phòng trọ không ể cho ông biết. Lúc này, Phạm Đức A và Trần Tuấn A1 ngồi bên trong nhìn thấy thì A lấy ở dư i gầm giường một bộ dụng cụ sử dụng ma túy á ra bỏ ở nền phòng trọ, S lấy gói ma túy á ổ hết vào cóng thủy tinh màu trắng rồi bật lửa khò lên hút cùng v i A và A1. 05 phút sau, S gọi H "vô i", H i vào cầm ống hút nhựa lên cho vào miệng, A dùng bật lửa khò cho H hút. Khoảng 15 phút sau, nghe phía bên ngoài có tiếng ồn ào S, A, H và A1 sợ bị Công A phát hiện nên không sử dụng ma túy nữa. Phạm Đức A thấy trong cóng thủy tinh còn thừa một ít ma túy á nên lấy bộ sử dụng ma túy cất dấu dư i gầm giường phòng trọ còn S, H và A1 i về. Khoảng 16 giờ 10 phút, Công an phường A, thành phố V ến kiểm tra hành chính phòng trọ của A phát hiện, thu giữ dư i gầm giường 01(một) chai nhựa màu nâu cao khoảng 15cm, có một nắp chai màu xanh ược ục hai lỗ, một lỗ bỏ một ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 30 cm, một lỗ bỏ một ống cóng thủy tinh màu trắng, một ầu ược uốn cong có hình bầu dục, bên trong có chất tinh thể màu trắng ục là ma túy á mà Phạm Đức A vừa cất dấu. Sau ó, Công an phường A, thành phố V dẫn giải Phạm Đức A và mời người làm chứng về trụ sở ể lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.
Đến khoảng 21 giờ ngày 27 9 2021, Nguyễn Như S ến Công an phường A, thành phố V xin ầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Thu giữ của Nguyễn Như S 01 chiếc iện thoại nhãn hiệu Xiao redmi màu xAh tím và thu giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha màu trắng xanh, biển số 37E1 - 500.49 ã qua sử dụng.
Đến khoảng 16 giờ ngày 01 10 2021, Nguyễn Hữu H, ến Cơ quan CSĐT công an thành phố V ầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như ã nêu trên.
Tại kết luận giám ịnh số 1346 KL– PC09 (Đ2-MT) ngày 03 10 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ A kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng ục thu giữ của Phạm Đức A gửi t i giám ịnh là ma túy (Methamphetamine); Có khối lượng là 0,275 gam.
V i nội dung trên Bản án hình sự sơ thẩm số 204 2022 HS-ST ngày 15/8/2022 của Toà án nhân dân C, tỉnh Nghệ An ã quyết ịnh:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A, Nguyễn Hữu H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Căn cứ vào iểm b khoản 2 Điều 255; iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Như S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28 9 2021. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Phạm Đức A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28 9 2021. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
3
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2021. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết ịnh về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.
Ngày 15/8/2022, Viện kiểm sát nhân dân C, tỉnh Nghệ An có Quyết ịnh kháng nghị phúc thẩm số 01 QĐ-VKS-TPV ối v i Bản án hình sơ thẩm số 204 2022 HSST ngày 15 8 2022 của Tòa án nhân dân C, tỉnh Nghệ An về phần áp dụng khung hình phạt và mức hình phạt ối v i các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A và Nguyễn Hữu H về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A, Nguyễn Hữu H theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự và giảm hình phạt cho các bị cáo
Ngày 10/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân C, tỉnh Nghệ An có Quyết ịnh rút toàn bộ kháng nghị phúc thẩm số 01 QĐ-VKS-TPV.
Ngày 12 tháng 8 năm 2022 bị cáo Nguyễn Như S có ơn kháng cáo; ngày 26 tháng 8 năm 2022 bị cáo Nguyễn Hữu H có ơn kháng cáo; ngày 22 tháng 8 năm 2022 bị cáo Phạm Đức A có ơn kháng cáo; các bị cáo kháng cáo ề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và ề nghị Hội ồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì hình vi phạm tội của các bị cáo ược quy ịnh tại khoản 1 Điều 255 bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An ề nghị Hội ồng xét xử:
Căn cứ iểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A và Nguyễn Hữu H, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A và Nguyễn Hữu H.
Căn cứ vào iểm b khoản 2 Điều 255; iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Như S 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2021;
- Xử phạt bị cáo Phạm Đức A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2021;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H từ 05 (năm) năm ến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 10 2021.
Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo không tranh luận v i quan iểm của ại diện Viện kiểm sát, ề nghị Hội ồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án ã ược tranh tụng tại phiên tòa, Hội ồng xét xử nhận ịnh như sau:
1. Về tố tụng:
Quyết ịnh kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân C, tỉnh Nghệ An và nội dung ơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A và Nguyễn Hữu H bảo ảm úng quy ịnh tại các Điều 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự nên là hợp lệ, ược Hội ồng xét xử xem xét, giải quyết theo quy ịnh pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân C, tỉnh Nghệ An có Quyết ịnh rút toàn bộ Quyết ịnh kháng nghị phúc thẩm số 01 QĐ-VKS-TPV ngày 10/11/2022 nên Hội ồng xét xử ình chỉ xét xử vụ án ối v i kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân C, tỉnh Nghệ An.
2. Nội dung vụ án:
Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A, Nguyễn Hữu H, Hội ồng xét xử xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A và Nguyễn Hữu H thừa nhận án sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là úng, không oan; các bị cáo ều cho rằng bản thân không phải là người nghiện ma túy, các bị cáo tự tổ chức cho nhau sử dụng ma túy và tổ chức cho 01 người khác sử dụng ma túy nên hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Xét thấy bị cáo Nguyễn Như S là rủ rê Phạm Đức A và Nguyễn Hữu H sử dụng ma túy, là người liên hệ, bỏ tiền ra mua ma túy, rủ Nguyễn Hữu H i lấy ma túy về cùng nhau sử dụng; bị cáo Phạm Đức A là người khởi xư ng, dùng nơi ở của mình ể tổ chức sử dụng ma túy, cũng là người chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy; khi bị cơ quan chức năng kiểm tra Phạm Đức A ã cất giấu số ma túy còn lại và bộ sử dụng ma túy tránh bị phát hiện; bị cáo Nguyễn Hữu H là người i cùng Nguyễn Như S lấy ma túy và là người trực tiếp lấy ma túy ở iểm hẹn, canh gác cho các bị cáo khác sử dụng ma túy. Như vậy Phạm Đức A và Nguyễn Hữu H ồng phạm v i Nguyễn Như S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” v i vai trò là người giúp sức. Việc tổ chức tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công cụ thể vai trò, nhiệm vụ của từng người, tuy nhiên các bị cáo ều nhận thức ược việc khởi xư ng, mua ma túy về cho cả nhóm sử dụng và ã ồng ý, tiếp nhận ý chí của nhau và cùng nhau tổ chức cho Trần Tuấn A1 sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A, Nguyễn Hữu H ã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” ược quy ịnh iểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” ược quy ịnh iểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, úng pháp luật.
5
Xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm ã xem xét, ánh giá toàn diện tính chất, mức ộ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của các bị cáo và xử phạt bị cáo Nguyễn Như S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, bị cáo Phạm Đức A 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù và bị cáo Nguyễn Hữu H là 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là nghiêm minh, có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung ối v i loại tội phạm này.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A, Nguyễn Hữu H cung cấp tình tiết giảm nhẹ m i “Giấy khen” của Ủy ban nhân phường A, thành phố V, tỉnh Nghệ An vì ã có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống dịch Covid19; Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Nghệ An nội dung có thành tích xuất sắc trong phong trào văn hóa, văn nghệ thể dục thể thao năm 2020, ây là các tình tiết giảm nhẹ m i ược quy ịnh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A, Nguyễn Hữu H phạm tội chức sử dụng trái phép chất ma túy do ham vui, mục ích là thỏa mãn nhu cầu cá nhân, không vì vụ lợi. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận ơn kháng cáo của các bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt như ề nghị của ại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Các quyết ịnh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A, Nguyễn Hữu H ược chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ iểm b, khoản 1 Điều 355; iểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm ối v i Quyết ịnh kháng nghị phúc thẩm số 01 QĐ-VKS-TPV ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân C, tỉnh Nghệ An.
2. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Như S, Phạm Đức A, Nguyễn Hữu H; sửa án sơ thẩm, giảm hình phạt tù cho các bị cáo.
Căn cứ iểm b khoản 2 Điều 255; iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Như S 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28 9 2021. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
6
- Xử phạt bị cáo Phạm Đức A 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28 9 2021. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Căn cứ iểm b khoản 2 Điều 255; iểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/10/2021. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
3. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
4. Các quyết ịnh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. .
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An; - Phòng HSNV Công A tỉnh Nghệ An; - Phòng KTNV&THA Tòa án tỉnh Nghệ An; - TAD, VKSND C; - Công an huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Các bị cáo; - Lưu HSVA. 7 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Ngọc Ah |