vanban.org

Bản án 165/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 04/10/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 165/2017/HSST
Ngày 04/10/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hồng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thiện Lợi

Bà Phạm Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.

- Đại diện VKSND thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trương thị Huyền - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 04 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vu ̣ án hinh sự thu ̣

̀ lý số 157/2017/HSST ngày 21 tháng 9 năm 2017, quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số 183/2017/QĐXX - ST ngày 22 tháng 9 năm 2017 đối vớ i bi ̣ cáo:

Trần Văn C - Sinh ngày 23/6/1990 tại T; Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã N, huyện T, tỉnh T; Nghề N: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông Trần Văn X và bà Trần Thị N; có vợ là Nguyễn Thị H và có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 14/7/2017 đến nay. (Trích xuất bị cáo, có mặt)

Ngƣời bi ̣ ha ̣i : Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1987; Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T. (vắng mặt)

Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Đình T, sinh năm 1986; Trú tại: thôn L, xã N, huyện T, tỉnh T. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ Á N:

Qua các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và quá trình xét hỏi, tranh luận ta ̣i phiên tòa, nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 26/6/2017, Trần Văn C đến cửa hàng quảng cáo M của anh Nguyễn Văn N ở thôn Đ, xã T, thành phố T mục đích để báo với anh N dừng lại một số công việc mà C định thuê anh N làm. Khi đến nơi C thấy cửa hàng mở nhưng không thấy anh N đâu, C gọi nhưng không thấy anh N trả lời, C nghĩ anh N đang ở gần cửa hàng nên cửa mở và xe máy của anh N vẫn dựng trước cửa nhà, C đi vào trong quán ngồi lên ghế ở trước bàn máy tính đợi anh N, khoảng 05 phút sau không thấy anh N về nên C đi ra hàng bán hoa quả bên cạnh quán quảng cáo. Tại đây C gặp ông Bùi Hữu K và bà Đặng Thị H đều trú tại thôn Đ, xã T, thành phố T, C hỏi hai người này là anh N đi đâu, bao giờ về thì hai người này nói không biết. Sau đó C lại vào cửa hàng của anh N đợi anh N, do đợi lâu C định lấy bút viết ra giấy những việc cần trao đổi với anh N rồi để lại nhưng C không tìm thấy bút, C thấy trên mặt bàn máy tính của anh N có chiếc cặp da đen, C mở chiếc cặp này ra tìm bút, khi mở chiếc cặp ra C thấy bên trong có một chiếc điện thoại Blackberry màu đen màn hình cảm ứng và một quyển sổ giấy hóa đơn, C liền đóng túi lại. Lúc này C nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại nói trên để bán, C nhìn chung quanh không thấy có người liền dùng tay phải bật nắp chiếc túi da rồi luồn bàn tay phải vào trong túi lấy chiếc điện thoại di động bỏ vào túi quần rồi đi ra khỏi cửa hàng của anh N và bắt xe khách về nhà. Sáng ngày 27/6/2017, C mang chiếc điện thoại trộm cắp của anh N đến quán mua bán sửa chữa điện thoại Đ ở xã N, huyện T, tỉnh T bán cho anh Trần Đình T ở thôn L, xã N, huyện T, tỉnh T lấy 2.000.000 đồng và mang chi tiêu cá nhân hết.

Bản kết luận định giá tài sản số 30/KLĐG-CATP ngày 14/7/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Thái Bình kết luận: “Chiếc điện thoại Blackberry màu đen màn hình cảm ứng đã qua sử dụng giá trị là 4.000.000 đồng”.

Tại bản cáo trạng số 173/KSĐT ngày 21 tháng 9 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh truy tố bi ̣ cáo Tr ần Văn C về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản”

̀ theo khoản 1 Điều 138 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.

̀

Tại phiên tòa, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân d ân thành phố Thái Binh vẫn giữ

̀ nguyên quan điểm truy tố Trần Văn C về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng kho ản 1 Điều 138; điểm b, g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo mứ c án từ 03 tháng đến 05 tháng tù. thờ i ha ̣n tù tinh từ ngày tạm giam 14/7/2017.

́

Về vật chứng vụ án: Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thái Bình ra quyết định xử lý vật chứng trả lại anh Nguyễn Văn N chiếc điện thoại Blackberry màu đen màn hình cảm ứng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm thao quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát đề xuất, không có ý kiến gì.

Trướ c khi Hô ̣i đồng xét xử vào phòng nghi ̣ án , bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

̀

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ̉ :

Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃

c thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:

Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên , Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh , Kiểm sát viên

̀ trong quá trinh điều tra , truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền , trình tự, thủ tục

̀ quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa , bị cáo,

̀ ngườ i bi ̣ hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi , quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng , ngườ i tiến hành tố tu ̣ng . Do đó , các hành vi , quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đều hợp pháp.

Lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa hôm nay như đã khai trư ớc cơ quan điều tra phù hợp vớ i lờ i khai của người bị hại anh Nguy ễn Văn N (BL số 51 -58); lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Đình T (BL số 67 - 70); được chứng minh bằng biên bản ta ̣m giữ đồ vâ ̣t , tài liệu (BL số 15); cùng các tài liệu , chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vu ̣ án.

Đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 26/6/2017, tại cửa hàng quảng cáo M của anh Nguyễn Văn N ở thôn Đ, xã T, thành phố T, Trần Văn C đã lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại nhãn hiệu Blackberry của anh Nguyễn Văn N trị giá là 4.000.000đồng.

Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhâ ̣n thứ c và điều khiển

hành vi của mình.

Hành vi của bi ̣ cáo đ ủ yếu tố cấu thành tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” , không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên bị xét xử ở khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, quy định như sau:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. …”

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt với bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn đã được thu hồi trả lại cho người bị hại hạn chế hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào tình chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự xử bị cáo mức án dưới mức thấp của khung hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nhưng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Đối với anh Trần Đình T là người mua chiếc điện thoại Blackberry của C với giá 2.000.000đồng, nhưng anh T không biết là tài sản do C phạm tội mà có nên không xử lý anh T là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Văn N đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là điện thoại Blackberry trong tình trạng còn nguyên vẹn và không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thái Bình đã thu hồi trả lại chiếc điện thoại Blackberry cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn N. Chấp nhận việc gia đình bị cáo Trần Văn C đã hoàn trả lại cho anh Trần Đình T số tiền 2.000.000đồng.

Về án phi: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

́

Bị cáo, ngườ i bi ̣ ha ̣i có quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n luâ ̣t đi ̣nh.

Vì các lẽ trên.

́

QUYÊT ĐI ̣NH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Trộm cắ p tà i sản”.

2. Hình phạt: Áp dụng kho ản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1Điều 46; Điều 47; Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999.

Xử pha ̣t bị cáo Trần Văn C 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 14/7/2017.

3. Về vâ ̣t chƣ́ ng vụ án: Áp dụng Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự, Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t

̀ tố tu ̣ng hinh sự.

̀

Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thái Bình đã thu hồi trả lại chiếc điện thoại nhãn hiệu Blackberry cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn N. Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt trong tình trạng còn nguyên vẹn, không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.

Chấp nhận việc gia đình bị cáo Trần Văn C đã hoàn trả cho anh Trần Đình T số tiền 2.000.000đồng.

4. Về á n phí : Áp dụng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự ; Nghị quyết số

̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Văn C phải nộp 200.000 đồng án phi hinh sự sơ thẩm.

́ ̀

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 04/10/2017. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mă ̣t có quyền kháng cáo trong thời hạn15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./. Nơi nhâ ̣n:

̀

̉

Cỡ chữ