- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tài M và đồng phạm - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn T, Nguyễn Tài M1, Nguyễn Doãn B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2026/HS-ST Ngày: 19-6-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Sơn và ông Nguyễn Văn Tiến
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Hoàng Tú Anh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Thập - Kiểm sát viên
Ngày 19/6/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2026/TLST-HS ngày 29/4/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2026/QĐXXST-HS ngày 20/5/2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 95/2026/QĐXXST-HS ngày 03/6/2026 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đinh Văn T; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh năm 1986 tại xã L, tỉnh Nghệ An; Số CCCD: 040086011886; Nơi thường trú: xóm H, xã L, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đinh Văn M và bà Đinh Thị L; Vợ: Lữ Thị T1, sinh năm 1984 (Đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2016; Anh, chị, em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: - Bản án số 573/2005/HSST ngày 16/11/2005 của Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 8 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng về tội “trộm cắp tài sản”.
- Ngày 10/04/2009, Công an thành phố V, tỉnh Nghệ An Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 150.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản.
- Bản án số 23/2017/HSST ngày 16/3/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 05 năm tù về tội “Giết người” và 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tổng hợp hình phạt chung cả hai tội là 06 năm tù.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2025 đến nay. Có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Tài M1; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh năm 2000 tại phường C, tỉnh Nghệ An; Số CCCD: 040200007724; Nơi thường trú: khối H, phường C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tài Q (đã chết) và bà Lê Thị L1; Anh, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự, Tiền án: Không.
Nhân thân: Bản án số 554/2018/HSST ngày 30/11/2018 của Toà án nhân dân thành phố Vinh xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2025 đến nay. Có mặt.
3. Họ và tên: Nguyễn Doãn B; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh năm 1985 tại phường C, tỉnh Nghệ An; Số CCCD: 040085000895; Nơi thường trú: khối L, phường C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Doãn L2 (đã chết) và bà Trần Thị T2; Anh, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Tạ Thúy H, sinh năm 1995; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2022; Tiền sự, Tiền án: Không.
Nhân thân: - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 29/QĐ-XPVPHC ngày 30/5/2015 của Công an phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An phạt tiền 350.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
- Ngày 15/5/2016, Công an phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép vật liệu nổ.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/9/2025 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 2002. Địa chỉ: khối T, phường C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 31/8/2025, Nguyễn Tài M1 đang ở nhà tại khối H, phường C, tỉnh Nghệ An thì Đinh Văn T gọi điện đến nói đang trên đường X chơi và nhờ tìm nơi cầm cố xe máy thì M1 đồng ý. Khi gặp nhau M1 đưa T đến tiệm cầm đồ “Sơn Phố N” ở khu vực chợ M3, phường V, tỉnh Nghệ An. Tại đây, T đã cầm cố một chiếc xe máy được 5.400.000 đồng. Sau đó, T nói với M1 hỏi tìm nhà nghỉ và mua ma túy về để sử dụng. M1 dùng điện thoại di động mang nhãn hiệu Iphone 14, màu xanh bên trong có gắn thẻ sim với số thuê bao 0374632765 liên lạc với Nguyễn Văn T3 (sinh năm 2002, trú tại: khối T, phường C, tỉnh Nghệ An) qua ứng dụng M2 để hỏi mua ma tuý. Nguyễn Văn T3 đồng ý bán ma túy cho M1 với giá 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) rồi T3 gửi số tài khoản 0368455212” để M1 chuyển tiền và hẹn giao dịch tại khu vực nhà nghỉ V, thuộc phường C, tỉnh Nghệ An.
Sau khi cầm cố xe máy, Đinh Văn T và Nguyễn Tài M1 đi taxi đến hiệu cầm đồ “Hải Liêm” ở khối L, phường C, tỉnh Nghệ An nhờ chuyển 5.000.000 đồng tiền mặt vào số tài khoản 19074968520010 ngân hàng T8 của M1, sau đó M1 chuyển 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) vào số tài khoản 19025548536026 thuộc ngân hàng T8 mang tên Đinh Van T4. Số tiền 1.000.000 đồng còn lại, M1 chuyển tiếp 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng) vào số tài khoản “0368455212” Ngân hàng TMCP C mang tên VUONG DINH THAO, còn 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) T4 cho M1 mượn chi tiêu cá nhân.
Sau đó M1 gọi taxi cùng Đinh Văn T về nhà nghỉ V1 phòng 301 để nghỉ, Đinh Văn T ở lại phòng nghỉ, còn M1 đi về nhà lấy dụng cụ (cóng) sử dụng ma tuý rồi quay lại nhà nghỉ Võ Kim . Nguyễn Văn T3 đưa cho M1 một gói nilon màu trắng bên trong chứa ma tuý, M1 cầm gói ma tuý và cóng đi lên phòng 301 rồi nói với Đinh Văn T “hàng có đây rồi” (ý là có ma tuý đá đây rồi) thì T trả lời “Ừ”, sau đó M1 đi lên Quảng trường B chơi.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, M1 trở về vào phòng 301 nhà nghỉ V thì thấy có chai nước lọc để sẵn trên bàn, M1 cắm cóng và vòi hút bằng nhựa màu trắng vào để làm bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, M1 cùng T lấy gói ma túy đã mua lúc chiều ra để sử dụng. Lúc này, Nguyễn Tài M1 điện thoại cho Nguyễn Doãn B đến cùng sử dụng nhưng B không nghe máy. Đến sáng ngày 02/9/2025, khi B nhắn tin lại thì M1 tiếp tục rủ B đến nhà nghỉ Võ K và nói khi đi thì mang theo bật lửa khò để sử dụng ma túy thì B đồng ý.
Đến khoảng 14 giờ ngày 02/9/2025, B đi bộ đến nhà nghỉ V để gặp M1 và Đinh Văn T. B mang theo một chiếc bật lửa có gắn đầu khò do B tự chế để sử dụng ma tuý đá. Tại đây, M1 cùng Đinh Văn T và B tiếp tục lấy ma túy đá ra để sử dụng. Sau đó, M1 đi về nhà tắm rửa còn B và Đinh Văn T ở lại nhà nghỉ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì M1 quay lại nhà nghỉ Võ K cùng với B và Đinh Văn T tiếp tục sử dụng ma túy rồi ngủ lại đó.
Khoảng 15 giờ ngày 03/9/2025, Nguyễn Tài M1 liên lạc với Nguyễn Văn T3 nhờ đến chở đi cầm cố điện thoại di động để lấy tiền tiêu xài cá nhân. T3 đồng ý và điều khiển xe máy chở M1 đến quán điện thoại “H” ở khu vực Trường N2, phường V, tỉnh Nghệ An. Tại đây, M1 cầm cố điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 của mình với số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng). Do trước đó máy điện thoại đã cầm cố tại quán nên M1 nói chủ quán chuyển 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) vào tài khoản của Nguyễn Văn T3. Rồi sau đó, M1 nói Nguyễn Văn T3 chuyển 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) vào tài khoản Icloud của M1, số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) còn lại Nguyễn Văn T3 nói với M1 cho T3 mượn đến 20 giờ cùng ngày T3 sẽ trả thì M1 đã đồng ý. Trên đường đi về, Nguyễn Văn T3 đưa cho M1 một gói ni lông màu trắng bên trong chứa ma túy đá để M1 sử dụng, rồi tiếp tục chở M1 về nhà nghỉ V và rời đi. M1 cầm gói ma túy đá lên phòng 301 nhà nghỉ V cùng với Nguyễn Doãn B và Đinh Văn T sử dụng. Đến khoảng 20 giờ ngày 03/9/2025, M1 sử dụng điện thoại di động của B gọi cho Nguyễn Văn T3 để nói T3 trả tiền cho M1 bằng cách chuyển qua tài khoản của B thì Nguyễn Văn T3 đã chuyển 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), còn nợ 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi ngàn đồng). Sau đó, M1 cùng với B và Đinh Văn T tiếp tục sử dụng ma tuý.
Đến 10 giờ 30 phút ngày 04/9/2025, khi Nguyễn Tài M1, Đinh Văn T và Nguyễn Doãn B đang ở trong phòng 301 nhà nghỉ V thì tổ công tác Công an phường C đến kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Đinh Văn T, Nguyễn Tài M1, Nguyễn Doãn B về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và thu giữ toàn bộ tang vật
Ngày 04/9/2025, Hội đồng mở niêm phong và lấy mẫu vật gửi giám định: 01 (một) gói ni lông màu trắng có kích thước (2x4) cm, ký hiệu M1; 01 (một) gói ni lông màu trắng có kích thước (2x2) cm, ký hiệu M2; 01 (một) chai nhựa màu trắng, có nắp màu trắng có hai lỗ tròn, một lỗ gắn một vòi hút bằng nhựa màu trắng, một lỗ gắn một cóng thủy tinh có bầu cóng hình tròn, ký hiệu M3.
Ngày 10/09/2025, kết luận số 416 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Các mẫu vật kí hiệu M1, M2, M3 gửi giám định đều có bám dính chất ma túy, loại Methamphetamine. Kết quả Test nhanh qua nước tiểu của Nguyễn Tài M1, Đinh Văn T và Nguyễn Doãn B đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Vật chứng, thu giữ và xử lý:
- 02 (hai) gói ni lông màu trắng bên trong các gói ni lông có bám dính chất ma túy, loại Methamphetamine;
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp màu trắng có 02 lỗ tròn, 01 (một) lỗ gắn 01(một) vòi hút bằng ống nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn cóng thuỷ tinh có bầu cóng hình tròn; bên trong có bầu cóng hình tròn bên trong bầu cóng có bám dính chất ma túy, loại Methamphetamine;
- 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ có gắn đoạn ống nhựa dài 5cm;
- 01 (một) chiếc bật lửa màu trắng;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu xám đen, bên trong có 01 sim số 0946877586, thu giữ của Đinh Văn T;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung galaxy S9, màu đen, bên trong có sim số 0963846857, thu giữ của Nguyễn Doãn B;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, màu xanh bên trong gắn số thuê bao 0374632765, thu giữ của Nguyễn Tài M1;
Hiện các vật chứng đang được bảo quản tại Kho vật chứng Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Nghệ An.
Tại Bản cáo trạng số 64/CT-VKS-KV1 ngày 28/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An đã truy tố: Nguyễn Tài M1, Đinh Văn T, Nguyễn Doãn B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Nghệ An giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Tài M1 và Đinh Văn T từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điều 38; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Doãn B từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung
. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 04/9/2025, tại phòng C nhà N, phường C, tỉnh Nghệ An, Tổ công tác Công an phường C đã phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Tài M1, Đinh Văn T và Nguyễn Doãn B đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine. Quá trình điều tra xác định, trong thời gian từ ngày 31/8/2025 đến ngày 03/9/2025, tại phòng 301 nhà nghỉ V, Đinh Văn T, Nguyễn Tài M1, Nguyễn Doãn B đã 03 lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy, hành vi Đinh Văn T, Nguyễn Tài M1, Nguyễn Doãn B thực hiện đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
. Vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, có đồng phạm, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước đối với ma tuý, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội, các bị cáo đều có nhân thân xấu, vì vậy cần xử phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo. Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị can Đinh Văn T có ông nội Đinh Văn T5 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân Chương kháng chiến hạng ba, bà nội Đinh Thị N1 được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy Chương kháng chiến hạng nhất theo Quyết định khen thưởng số 213 ngày 27/03/2998, bố Đinh Văn M được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang; Bị cáo Nguyễn Tài M1 được tặng Giấy khen trong công tác thiện nguyện. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, xử phạt các bị cáo mức án như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là lao động tự do, không có việc làm thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
. Đối với cơ sở kinh doanh nhà nghỉ V quá trình điều tra xác định ông Hoàng Mạnh L3 (sinh năm 1990, trú tại phường N, tỉnh Nghệ An) là người đại diện theo pháp luật. Ông L3 không biết các đối tượng thuê phòng để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng ma túy. Do đó, không xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông L3, Cơ quan Cảnh sát điêu tra Công an tỉnh N đã xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo quy định.
Đối với người đàn ông Nguyễn Văn T3 là người đã bán ma túy cho Nguyễn Tài M1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tách hành vi và ban hành Lệnh giữ người người trong trường hợp khẩn cấp để xử ly theo quy định. Còn người đàn ông tên Vương Đình T6 mà Nguyễn Văn T3 gửi số tài khoản để Nguyễn Tài M1 chuyển 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng) mua ma tuý hiện không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tách hành vi để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng ma tuý của Đinh Văn T, Nguyễn Tài M1, Nguyễn Doãn B không thuộc diện quản lý sau cai nghiện nên không có căn cứ xử lý theo Điều 256a Bộ luật hình sự.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Đối với vật chứng gồm: 02 (hai) gói ni lông màu trắng bên trong các gói ni lông có bám dính chất ma túy, loại Methamphetamine; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 (một) chai nhựa màu trắng có nắp màu trắng có 02 lỗ tròn, 01 (một) lỗ gắn 01(một) vòi hút bằng ống nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn cóng thuỷ tinh có bầu cóng hình tròn, bên trong có bầu cóng hình tròn bên trong bầu cóng có bám dính chất ma túy, loại Methamphetamine; 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ có gắn đoạn ống nhựa dài 5cm; 01 (một) chiếc bật lửa màu trắng là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với: 03 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo là phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn T, Nguyễn Tài M1, Nguyễn Doãn B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
2. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt:
- Đinh Văn T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2025.
- Nguyễn Tài M1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2025.
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt: Nguyễn Doãn B 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2025.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng gồm:
+ 02 (hai) phong bì Phòng CSĐTTP vè ma túy dán kín, trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong lấy mẫu giám định và niêm phong lại, chữ ký của các đối tượng Nguyễn Tài M1, Đinh Văn T, Nguyễn Doãn B và hình dấu của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N. Bên trong đều có chứa vỏ bao bì, niêm phong ban đầu.
+ 01 (một) túi niêm phong chuyên dụng có mã số PS2 24098954 được dán kín, trên các mép dán có chữ ký của ông Phạm Xuân Q1 và Võ Văn T7 và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh N. Bên trong có gói ni lông (ký hiệu: M1) và gói ni lông (ký hiệu: M2) được bỏ vào 01 (một) gói ni lông lớn hơn cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy (ký hiệu: M3).
+ 01 (một) chiếc bật lửa màu đỏ có gắn đoạn ống nhựa dài 05cm và 01 (một) chiếc bật lửa màu trắng.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: SAMSUNG Galaxy S9, màu đen thu giữ của Nguyễn Doãn B, máy đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong máy, ốp phía trước và phía sau điện thoại bị nứt vỡ. Không kiểm tra được số I do máy không lên nguồn.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: IPHONE 14, màu xanh; thu giữ của Nguyễn Tài M1, máy đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong máy. Không kiểm tra được số Imei do bị can không cung cấp mật khẩu nên không kiểm tra được.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu: IPHONE 8, màu đen thu giữ của Đinh Văn T, máy đã qua sử dụng không kiểm tra chi tiết bên trong máy, ốp phía trước và phía sau điện thoại bị nứt vỡ. Không kiểm tra được số Imei do bị can không cung cấp mật khẩu nên không kiểm tra được.
Vật chứng có tại Kho vật chứng Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Nghệ An theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/5/2026.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo: Đinh Văn T, Nguyễn Tài M1, Nguyễn Doãn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - Công an tỉnh Nghệ An; - VKSND khu vực 1 – Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - THADS tỉnh Nghệ An; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nhung |