- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:164/2024/HS - ST Ngày: 20/12/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Thời.
2. Ông Bùi Văn Thiệu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2024/TLST - HS ngày 28/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; ĐKHKTT và chỗ ở : Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thiện T1 và bà Ngô Thị Đ ; Có vợ là : Trương Thị H (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 07/9/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.
(Có mặt tại phiên tòa).
* Người làm chứng:
- Chị Lưu Thị V; Ông Vũ Đình T2; Anh Phạm Huy C. (Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân sử dụng ma túy tổng hợp dạng đá nên trưa ngày 25/8/2024, tại khu vực ngã tư Q, huyện A, TP ., Nguyễn Văn T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 01 (một) túi ma túy Methamphetamine với số tiền 250.000₫ (hai trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy T mang về nhà cất giấu để khi cần mang ra sử dụng. Đến khoảng 12h00' ngày 01/9/2024, T cầm theo túi Methamphetamine trên cùng 01 chai nhựa loại 500ml màu trắng, có nắp nhựa màu trắng được đục 2 lỗ; 01 lỗ có gắn ống hút nhựa màu trắng; 01 lỗ có gắn coóng thủy tỉnh và 01 bật lửa ga màu xanh rồi thuê 01 người đàn ông không quen chở lên khu vực cổng khu đô thị N, P. Á, TP ., tỉnh Hải Dương. Tại đây, T gặp Lưu Thị V, sinh năm 1989, Nơi thường trú: thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Hải Dương (là bạn mới quen) và rủ V vào nhà nghỉ để sử dụng ma túy. V đồng ý. Thưởng cùng V đi vào nhà nghỉ M thuộc khu đô thị N, P. Á, TP ., tỉnh Hải Dương. Thưởng vào hỏi thuê phòng 202 của nhà nghỉ. Tại phòng 202 nhà nghỉ, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy mang theo để lên bàn rồi cho ma túy vào bộ dụng cụ và cùng V sử dụng ma túy Methamphetamine bằng hình thức hút khói ma túy trực tiếp vào cơ thể. Đến khoảng 13h30' cùng ngày, khi T và V vừa sử dụng hết số ma túy trong bộ dụng cụ thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an T kết hợp với Công an phường Á, TP . kiểm tra, bắt quả tang, Thu giữ trên bàn uống nước trong phòng 01 chai nhựa loại 500ml màu trắng, có nắp nhựa màu trắng được đục 2 lỗ; 01 lỗ có gắn ống hút nhựa màu trắng: 01 lỗ có gắn coóng thủy tỉnh, bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng và muội khói màu đen và 01 bật lửa ga màu xanh trước sự chứng kiến của anh Vũ Đình T2 và anh Phạm Huy C.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T, kết quả: không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm phát hiện chất ma túy trong cơ thể ngày 01/9/2024 tại Công an T đối với Nguyễn Văn T và Lưu Thị V xác định T và V dương tính với chất ma tuý Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 391/KL-KTHS ngày 03/9/2024 của Phòng K, Công an tỉnh H kết luận: Quá trình giám định có tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine trong mẫu chất tinh thể màu trắng và chất muội khói màu đen bám dính bên trong bầu coóng thuỷ tinh được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. Methamphetamine nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để cùng với Lưu Thị V sử dụng trái phép ma túy phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 161/CT-VKS ngày 26/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 27 đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 01/9/2024.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 391/KL – KTHS, Công an tỉnh H bên trong có: 01 coóng thủy tinh, 01 vỏ phong bì niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 chai nhựa loại 500ml màu trắng có nắp nhựa màu trắng được đục 02 lỗ, một lỗ có gắn ống nhựa màu trắng; 01 bật lửa ga màu xanh.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13h30' ngày 01/9/2024, tại phòng 202 nhà nghỉ M thuộc Khu đô thị N, phường Á, TP ., tỉnh Hải Dương; Nguyễn Văn T chuẩn bị địa điểm, chất ma tuý (Methamphetamine), dụng cụ để cùng chị Lưu Thị V sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an T kết hợp với Công an P.Á, TP . kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ việc chuẩn bị ma túy, cung cấp ma túy, dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy cho Lưu Thị V sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội mà lại thực hiện hành vi phạm tội. Điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 01 phong bì niêm phong số 391/KL – KTHS, Công an tỉnh H bên trong có: 01 coóng thủy tinh, 01 vỏ phong bì niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 chai nhựa loại 500ml màu trắng có nắp nhựa màu trắng được đục 02 lỗ, một lỗ có gắn ống nhựa màu trắng; 01 bật lửa ga màu xanh là công cụ phạm tội và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về các vấn đề khác: Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T và chị Lưu Thị V đã vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ nên Công an T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Không làm rõ được người bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T; đối với anh Vũ Đình T2 là người quản lý nhà nghỉ M khi thấy Nguyễn Văn T và chị Lưu Thị V có biểu hiện sử dụng ma túy đã thông báo ngay cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T để kịp thời giải quyết nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí, lệ phí. Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 01/9/2024.
3.Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 391/KL – KTHS, Công an tỉnh H bên trong có: 01 coóng thủy tinh, 01 vỏ phong bì niêm phong là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 chai nhựa loại 500ml màu trắng có nắp nhựa màu trắng được đục 02 lỗ, một lỗ có gắn ống nhựa màu trắng; 01 bật lửa ga màu xanh.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương ngày 28/11/2024).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hải Dương; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Công an thành phố Hải Dương; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Trại tạm giam công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu |