- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Hoàng Đ trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1/Tuyên bố bị cáo V Hoàng Đ phạm tội “Trộm c p tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 164/2017/HSST Ngày 12 tháng 9 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Chiến
2. Ông Võ Thanh Liêm
Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thúy Kiều - Cán bộ Toà án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đắc Bắc - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 182/2017/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: V Hoàng Đ
Tên gọi khác: Không có
Sinh năm: 1991
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: p A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở hiện nay: p A, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Nghề nghiệp: Làm thuê
Trình độ học vấn: 8/12.
Con ông: V Hữu T và bà Nguy n Thị L
Vợ: Trần Thị N; Con: 01 người sinh năm 2016
Tiền sự; Tiền án: Không
Cấm đi khỏi nơi cư trú: Từ ngày 07/6/2017 đến nay
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
* Người bị hại: Anh Trang Văn C – sinh năm: 1989 (có mặt)
Địa chỉ: p C, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
NHẬN THẤY:
Bị cáo V Hoàng Đ bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 10/5/2017, khi bị cáo Đ c ng với Hu nh Nhật L đến nhà trọ Công Tử để thuê phòng ngủ qua đêm thì bị cáo phát hiện một xe hiệu ave biển số 69 1 -292.33 màu vàng của anh Trang Văn C đang đậu tại nhà xe của nhà trọ Công Tử. Nảy sinh ý định trộm xe, bị cáo d ng điện thoại của bị cáo để gọi vào số mày điện thoại của T nhưng không được, đến 03 giờ c ng ngày do điện thoại của bị cáo hết pin nên bị cáo lấy điện thoại của L tiếp tục điện cho T, T b t máy thì bị cáo nói với T việc s trộm xe của anh C và dặn T đứng bên ngoài nhà nghỉ Công Tử đợi, bị cáo lấy xe và đưa ra ngoài cho T đi tiêu thụ. Khi T đến đứng cách nhà trọ khoảng 10m thì T điện thoại cho bị cáo vào số máy của L, đến khoảng 04 giờ bị cáo d t xe của anh C từ chỗ đậu xe của nhà trọ Công Tử ra bên ngoài cho T, T d ng vật gì đó để mở khóa xe và điều khiển đến gửi tại nhà giữ xe đối diện bệnh viện Sản Nhi và T điện thoại cho bị cáo để nói vị trí gửi xe. Đối với bị cáo, sau khi giao xe vừa trộm được cho T thì bị cáo nhờ L d ng xe của L chở bị cáo về cây xăng Định Bình để lấy xe và đi uống cà phê. Khi đi ngang qua chỗ T gửi xe, bị cáo biết hành vi trộm c p đã bị phát hiện nên điện thoại nói với T để T không đến đó lấy xe.
Sau khi bị cáo lấy trộm xe anh C, anh S là chủ nhà trọ Công Tử phát hiện và thông báo cho anh C đang thuê tại phòng số 14. Anh C trình báo công án. Quá trình điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ sự việc trộm xe của anh C.
Tại Kết luận định giá số 71/KL-HĐĐG ngày 15/5/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: Tính vào thời điểm tháng 5/2017: 01 xe mô tô biển số 69 1-292.33 hiệu ave màu vàng – đen bạc, giá trị 90%: 14.200.000đ x 90% = 12.780.000đ
Tài sản bị trộm c p số 69 1-292.33 hiệu ave màu vàng – đen bạc đã thu hồi và trả lại cho người bị hại vào ngày 06/6/2017. Hiện anh C không yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
Ngoài ra, bị cáo còn bị thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Masstel, ngày 21/6/2017 bị cáo đã nhận lại.
Tại bản cáo trạng số: 169/KSĐT-KT ngày 21/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố V Hoàng Đ về tội “Trộm c p tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo V Hoàng Đ và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo V Hoàng Đ phạm tội “Trộm c p tài sản”;
Áp dụng: Điều 138, khoản 1, Điều 46 khoản 1 điểm g, h, p, khoản 2 điều 47 của Bộ luật hình sự: xử phạt V Hoàng Đ từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo V Hoàng Đ hoàn toàn khai nhận, do từ trước đã được đối tượng tên T rủ trộm xe để kiếm tiền tiêu xài nên vào khoảng 00 giờ ngày 10/5/2017 khi phát hiện xe của anh Trang Văn C đang đậu tại nhà xe của nhà trọ Công Tử thuộc ấp C, xã Đ, thành phố C, nên bị cáo nảy sinh ý định trộm c p xe của anh C nh m mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Để thực hiện ý định bị cáo điện thoại cho T biết. Đến khoảng 04 giờ c ng ngày, bị cáo V Hoàng Đ đã có hành vi l n lút lấy trộm 01 xe mô tô biển số 69 1-292.33 hiệu ave màu vàng – đen bạc của anh Trang Văn C để giao cho T đi cất giấu. Giá trị tài sản trộm c p b ng 12.780.000đ. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp với quá trình di n biến của vụ án.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc trộm c p tài sản của người khác là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì lợi ích cá nhân, thái độ xem thường pháp luật mà bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi trộm c p tài sản hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Tài sản bị cáo trộm c p có giá trị 12.780.000. Do đó có đủ cơ sở khẳng định bị cáo V Hoàng Đ phạm tội trộm c p tài sản theo quy định tại khoản 1 điều 138 của Bộ luật hình sự.
Quá trình x t xử, Hội đồng x t xử có xem x t đến các tình tiết: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, tài sản trộm c p đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nh được áp dụng khi xem x t hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm c p đã thu hồi và trả lại cho người bị hại. Người bị hại là anh Trang Văn C không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Hội đồng x t xử không xem x t.
Đối với người tên T bị cáo khai T sống tại khóm 6 phường 9 thành phố Cà Mau, qua xác minh không có người tên T tại khóm 6 phường 9 thành phố Cà Mau. Hiện nay chưa xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể, chưa làm việc được. Viện kiểm sát tách ra và giao Cơ quan điều tra Công an thành phố C tiếp tục xác minh làm r có căn cứ xử lý sau là ph hợp.
Đối với Hu nh Nhựt L, không biết việc bị cáo Đ trộm c p tài sản, không biết việc bị cáo lấy điện thoại của L để gọi cho T nên không xử lý hình sự là ph hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/Tuyên bố bị cáo V Hoàng Đ phạm tội “Trộm c p tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điểm g, h, p khoản 1, Điều 46 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo V Hoàng Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo V Hoàng Đ chấp hành án.
2/ p dụng Nghị Quyết quy định về án phí lệ phí Toà án: Án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ hai trăm ngàn đồng) bị cáo phải nộp (chưa nộp).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND thành phố Cà Mau; - CAND thành phố Cà Mau; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu TAND thành phố Cà Mau. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa (đã ký) Phan Thị Thu |