vanban.org

Bản án 163/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Đào Võ Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Bị cáo Đào Võ Văn C được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "163 Ngày 27-9-23 Đào Võ Văn C 142 - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đào Võ Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2023/HS-ST
Ngày 27 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Cao Đức - Cán bộ Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 8

2. Ông Phạm Anh Tuấn - Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 140/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:

Đào Võ Văn C; sinh ngày 30/6/2006, tại Thành phố Hồ Chí Minh (đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 14 tuổi 7 tháng 15 ngày); nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: 319/5A đường X, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 20 đường Y, Phường Y1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tấn V và bà Đào Ngọc H; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/8/2022. (có mặt)

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Đào Ngọc H, sinh năm 1985; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: 319/5A đường X, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 20 đường Y, Phường Y1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, là mẹ ruột của bị cáo. (có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Hoài Bảo, sinh năm: 1995 - Luật sư của Văn phòng luật sư Ngô Viết, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Bị hại: Em Đặng Dư Anh T, sinh ngày: 08/5/2009; nơi cư trú: 319/5A đường X, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Dư Lê Ngọc L, sinh năm: 1988; nơi cư trú: 319/5A đường X, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, là mẹ ruột của bị hại. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Dễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Dư Anh T và Đào Võ Văn C có quan hệ bà con xa, bà ngoại của T và bà ngoại của C là chị em cô cậu nên T gọi C bằng anh.

Vào ngày 05/3/2022, T cùng mẹ là bà Dư Lê Ngọc L đến Công an Phường 15, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc T bị Đào Võ Văn C hiếp dâm tại nhà số 319/5A đường X, Phường X1, Quận 8 vào năm 2020 và 2021. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 để điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra, xác định Đào Võ Văn C đã có hành vi xâm hại tình dục của T 02 lần, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng đầu năm 2020, C không nhớ rõ ngày, tháng chỉ nhớ vào buổi trưa (không nhớ mấy giờ), C cùng T, D và L1 vào phòng của chị G để ngủ trưa. Lúc này, D và L1 trùm mền để xem điện thoại nên C đi lại gần T nói với T không được lấy ảnh C bắt cá năm 2018 ra chọc C nữa (do lúc đó C ở truồng) rồi dùng tay phải đánh vào hai tay của T khoảng 03-04 cái, lúc này T còn cười rồi nói “để trưa mọi người ngủ hết đi rồi muốn làm gì làm”. Sau khi mọi người ngủ hết thì C nằm gần T rồi đắp mền, C dùng tay phải sờ vào ngực và âm hộ của T, rồi dùng miệng hôn vào mặt và miệng của T, sau đó C kéo quần của T xuống đến đầu gối rồi vén áo T lên đến cổ, C kéo khóa quần rồi lấy dương vật ra đưa vào âm đạo của T để quan hệ tình dục khoảng 15-20 phút thì nghe thấy tiếng bước chân bên ngoài và tiếng nói của người lớn nên C kêu T kéo lại quần áo không quan hệ tình dục nữa và C cũng đi ra ngoài. C quan hệ tình dục với T lần này không có sử dụng bao cao su, cũng không xuất tinh.

Lần thứ hai: Vào khoảng trưa (C không nhớ thời gian) ngày 14/02/2021, trong lúc C đang ngồi chơi tại nhà số 319/5A đường X, Phường X1, Quận 8 thì C có đi vào phòng của chị G. Lúc này, trong phòng chỉ có T và D nên C có tiến đến gần T rồi kêu T lấy chăn đắp lại để quan hệ tình dục với T, C dùng miệng hôn vào mặt và miệng của T, dùng tay sờ vào ngực và âm hộ của T nhưng T không đồng ý nên C đè T nằm ngửa xuống, ngồi lên đầu gối của T, dùng hai tay cầm lấy hai tay của T để ra hai bên hông T, rồi dùng hai chân đạp lên hai tay T để T không cào cấu được. Tiếp đó, C dùng hai tay kéo khóa quần của C xuống, đeo bao cao su vào dương vật rồi kéo quần của T xuống đến đầu gối, đồng thời đưa dương vật vào âm đạo của T để quan hệ tình dục. Khi quan hệ tình dục được khoảng 5 phút thì nghe thấy tiếng bước chân của người lớn bên ngoài nên C buông T ra rồi kéo quần lên đi ra ngoài. C vẫn chưa xuất tinh.

Ngoài hai lần quan hệ tình dục trên, C không có quan hệ tình dục với T lần nào khác. C có nhiều lần dùng tay sờ vào ngực và âm hộ của T, hôn vào mặt T tại nhà số 319/5A đường X, Phường X1, Quận 8 nhưng không có quan hệ tình dục với T, C không nhớ ngày tháng những lần này, chỉ nhớ thực hiện hành vi vào năm 2021. Hiện nay những hình ảnh khỏa thân của T gửi thì C đã xóa, C không sử dụng hình ảnh này để đe dọa quan hệ tình dục với T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 phối hợp Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tiến hành cho C và T nhận dạng qua lại với nhau, kết quả: C và T đều nhận dạng được nhau.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 24/TD.22 ngày 27/5/2022, Trung tâm Pháp y Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với em Đặng Dư Anh T như sau:

“Màng trinh: Dãn, không rách.

Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn.

Hiện diện ADN người nam trong phết dịch âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn nhưng không đủ cơ sở so sánh với ADN của đối tượng”

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Đào Võ Văn C đã khai nhận thực hiện hành vi quan hệ tình dục với T 02 lần vào thời gian cũng như địa điểm nêu trên. Tuy nhiên, đối với hành vi C quan hệ tình dục lần đầu với T vào thời điểm năm 2020 và hành vi C nhiều lần dùng tay sờ vào ngực và âm hộ của T vào năm 2021 thì tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, C chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu Đào Võ Văn C bồi thường thiệt hại.

Tại bản Cáo trạng số 142/CT-VKS-Q8 ngày 05/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đào Võ Văn C về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, theo điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đào Võ Văn C về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 142; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm nên không đề cập giải quyết.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát áp dụng để truy tố bị cáo.

Do bị cáo phạm tội khi ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nên cần xem xét đến khả năng nhận thức còn hạn chế của bị cáo về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo và đã thật sự ăn năn hối cải; có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để quyết định mức hình phạt, xem xét cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị, để bị cáo có cơ hội sớm hòa nhập cộng đồng, sửa chữa lỗi lầm, học tập, lao động có ích cho xã hội.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với quan điểm bào chữa của người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại và người đại diện hợp pháp có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và không yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Xét thấy, bị hại và người đại diện hợp pháp đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra, đồng thời xác định không có yêu cầu bồi thường. Do đó, việc bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt đối với bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Ngày 14/02/2021, tại nhà số 319/5A đường X, Phường X1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Đào Võ Văn C có hành vi dùng miệng hôn vào mặt và miệng của bị hại T, dùng tay sờ vào ngực và âm hộ của bị hại nhằm mục đích quan hệ tình dục nhưng bị hại không đồng ý. Sau đó, bị cáo đè bị hại nằm ngửa xuống, ngồi lên đầu gối của bị hại, dùng hai tay cầm lấy hai tay của bị hại để ra hai bên hông rồi dùng hai chân đạp lên hai tay bị hại để bị hại không cào cấu được. Tiếp đó, bị cáo dùng hai tay kéo khóa quần xuống, đeo bao cao su vào dương vật rồi kéo quần của bị hại xuống đến đầu gối và thực hiện hành vi giao cấu với bị hại.

Như vậy, bị cáo có ý định giao cấu với bị hại nhưng bị hại không đồng ý nên bị cáo đã dùng vũ lực đối với bị hại và thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn của bị hại. Thời điểm thực hiện hành vi giao cấu, bị cáo đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi; bị hại là người chưa đủ 13 tuổi. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm mà mình thực hiện.

Điều 142 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” như sau:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;

b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

….”

Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm hại đến sức khỏe, tình dục của người dưới 16 tuổi được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Đào Võ Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Thời điểm phạm tội, bị cáo đã đủ 14 tuổi (nhưng chưa đủ 16 tuổi) nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 91 và khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh và điều khoản truy tố nên không tranh luận. Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho bị cáo về việc đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi, là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi giao cấu với bị hại do bị cáo thực hiện vào năm 2020 và nhiều lần bị cáo dùng tay sờ vào ngực và âm hộ của T, hôn vào mặt T tại nhà số 319/5A đường X, Phường X1, Quận 8 nhưng không có quan hệ tình dục vào năm 2021, do thời điểm bị cáo thực hiện các hành vi kể trên, bị cáo chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (đối với từng tội phạm tương ứng) nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không khởi tố, truy tố là có căn cứ.

[12] Về án phí hình sự: Căn cứ quy định tại Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phạm tội khi là người dưới 16 tuổi nên được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 142; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Đào Võ Văn C 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Đào Võ Văn C được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ