vanban.org

Bản án 163/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/11/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Vũ Minh Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 163/2017/HSST
Ngày: 24-11-2017

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THỊ XÃ BEÁN CAÙT, TÆNH BÌNH DÖÔNG

- Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù:

Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa: Baø Nguyeãn Thò Thanh Nga.

Caùc Hoäi thaåm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm.

Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thö ký phieân toøa: Bà Phạm Ngọc Hoàng An – Thư ký Toaø aùn nhaân daân thị xã Beán Caùt, tænh Bình Döông.

- Ñaïi dieän Vieän Kieåm saùt nhaân daân thị xã Beán Caùt, tænh Bình Döông tham gia phieân toaø: Bà Phạm Thị Triều Mến - Kieåm saùt vieân.

Ngaøy 24 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xeùt xöû sô thaåm công khai vuï aùn hình söï thuï lyù soá 144/2017/TLST-HS ngaøy 13 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2017/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2017 ñoái vôùi bị cáo:

Trần Vũ Minh Đ, sinh năm 1994, tại tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện X, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở hiện nay: Tổ 5, ấp S, xã Đ, thị xã B, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: lớp 9; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; con ông Trần B, sinh năm 1964 và bà Phương Thị P, sinh năm 1964; tiền án tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Nguyên đơn dân sự: Công ty V. Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự: Ông Nguyễn Lê Q, sinh năm 1982. Trú tại: Ấp S, xã Đ, thị xã B, tỉnh Bình Dương – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Vũ Minh Đ là công nhân của Công ty V. Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Do cần tiền tiêu xài, Đ đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại Công ty V, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/7/2017, Đ cầm một ca nhựa màu đỏ trắng, kích thước 20cm x 10cm đi đến kệ để khuôn đồng (thỏi kim loại màu vàng) lấy 11 thỏi đồng, trọng lượng 12,6 kg bỏ vào ca nhựa đậy nắp lại rồi mang đến tủ cá nhân cách cổng Công ty 50 mét cất giấu. Khoảng 06 giờ cùng ngày (sau khi tan ca), Đ mang ca nhựa có thỏi đồng bên trong ra khỏi Công ty về phòng trọ của Đ (cách Công ty khoảng 200 mét) cất giấu chờ mang đi tiêu thụ.

Vụ thứ hai: Khoảng 00 giờ ngày 07/7/2017 với thủ đoạn như trên, Đ tiếp tục lấy trộm 07 thỏi đồng, có trọng lượng 4,7 kg mang đến tủ cá nhân cất giấu. Khoảng 06 giờ cùng ngày (sau khi tan ca), Đ mang ca nhựa có đựng thỏi đồng bên trong ra cổng Công ty thì bị bảo vệ kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Theo Kết luận định giá ngày 10/7/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát, xác định đồng dạng thỏi trị giá 150.000 đồng/kg x 17,3kg = 2.595.000 đồng (hai triệu, năm trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Ngày 11/7/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho Công ty V 18 thỏi đồng, có trọng lượng 17,3 kg, Công ty V không có yêu cầu gì thêm.

Bản Cáo trạng số 149/QĐ- KSĐT ngày 11/10/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố Trần Vũ Minh Đ về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 138, điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Vũ Minh Đ từ 06 tháng 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tịch thu tiêu hủy 01 (một) ca nhựa màu đỏ trắng hiệu Tylien kích thước 20cm x 10cm.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Vũ Minh Đ thống nhất với quyết định truy tố của Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và không có ý kiến gì về Kết luận định giá mà Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của thị xã Bến Cát đã định.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm Sát nhân dân thị xã Bến Cát, tình Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Vũ Minh Đ đã thành khẩn khai nhận: Ngày 05 và 07 tháng 7 năm 2017, bị cáo Đ đã có hành vi lén lút lấy trộm 18 thỏi đồng, trị giá 2.595.000 đồng của Công ty V để bán lấy tiền tiêu xài. Do vậy, Bản Cáo trạng số 149/QĐ-KSĐT ngày 11/10/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo Trần Vũ Minh Đ về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đ có thái độ thành khẩn khai báo, ắn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đ, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo cơ hội hòa nhập cộng đồng và sữa đổi lỗi lầm. Xét thấy, mức hình phạt mà vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đề nghị là phù hợp.

Về xử lý vật chứng: Bị cáo sử dụng ca nhựa màu đỏ trắng Tylien kích thước 20cm x 10cm làm công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì caùc leõ treân;

QUYEÁT ÑÒNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Vũ Minh Đ phạm tội “trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt: Bị cáo Trần Vũ Minh Đ 06 (không sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày Tòa tuyên án (24/11/2017).

Giao bị cáo Trần Vũ Minh Đ cho Ủy ban nhân dân xã An Điền, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Trần Vũ Minh Đ thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định để giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ca nhựa màu đỏ trắng hiệu Tylien kích thước 20cm x 10cm.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2017 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát và Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Vũ Minh Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nguyên đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ