vanban.org

Bản án 161/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 25/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoài N 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2023. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 442/KL-KTHS. Trả lại cho bị cáo Phạm Hoài N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ, song tạm giữ để bảo đả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hoài N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2023/HS-ST
Ngày: 25-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Kim Thành; bà Vương Thị Minh Tân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến N - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023; tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Cửa N, thành phố N, tỉnh Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2023/TLST-HS ngày 06-6-2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2023/QĐXXST-HS ngày 05-7-2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hoài N - sinh năm 1980 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số 30/8/141 đường V, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: N; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thanh T và bà Trần Thị H (đã chết); có vợ Phạm Thị Thu T và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04-9-2009 Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 30 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; bị tạm giữ từ ngày 08-3-2023, chuyển tạm giam từ ngày 17-3-2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Mai Đức T, anh Nguyễn Ngọc T (không triệu tập tới phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08-3-2023, Tổ công tác Công an phường N, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà 507 đường Đ, phường L, thành phố N phát hiện Phạm Hoài N đang điều khiển xe máy biển kiểm soát G1-16949 một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, N đã nhả từ miệng xuống đất 02 gói nhỏ nilong màu đen. Tổ công tác đã phát hiện, thu giữ và mở kiểm tra bên trong 02 gói nilong đều là lớp giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (N khai là 02 gói Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Hoài N. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của N 01 xe máy biển kiểm soát G1-16949 và 01 điện thoại di động Nokia màu đen (đều đã cũ).

Bản Kết luận giám định số 442/KL-KTHS ngày 15-3-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói giấy bạc màu trắng bên ngoài bọc nilong màu đen được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu: 0,256 gam.

Tại Cơ quan Điều tra, Phạm Hoài N khai nhận: Khoảng 06 giờ 15 phút ngày 08-3-2023, N điều khiển xe máy biển kiểm soát G1-16949 từ nhà đến khu vực ngõ 501 đường Đ, phường L, thành phố N rồi dừng xe trước cửa một ngôi nhà hai tầng có cửa kéo màu xanh, trong sân nhà có căng lưới màu đen (không nhớ rõ số nhà). N nhìn qua khe cửa thấy có một người phụ nữ (không biết tên tuổi). N hỏi mua của người phụ nữ đó 200.000 đồng tiền Heroine. Người phụ nữ nhận tiền N đưa qua lỗ cửa và đưa lại cho N 02 gói Heroine được gói trong 02 gói nhỏ nilong màu đen. Sau khi mua được ma túy, N cầm 02 gói ma túy cho vào trong miệng ngậm rồi đi về tìm nơi sử dụng. Khi N đi đến khu vực trước cửa số nhà 507 đường Đ, phường L, thành phố N thì bị phát hiện, bắt giữ.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N đã phối hợp với Công an phường L, thành phố N tiến hành xác minh ngôi nhà nơi Phạm Hoài N mua ma túy. Kết quả xác minh: Tại khu vực ngõ 501 đường Đ, phường L, thành phố N không có ngôi nhà nào có vị trí và đặc điểm như Phạm Hoài N khai.

Bản Cáo trạng số 146/CT-VKS-TPNĐ ngày 05-6-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Phạm Hoài N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Phạm Hoài N xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Hoài N theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Phạm Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 27 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo. Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. 01 xe máy biển kiểm soát G1-16949 tạm giữ của bị cáo chưa rõ nguồn gốc nên tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Hoài N có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng; bản Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N Định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08-3-2023, tại khu vực trước cửa số nhà 507 đường Đ, phường L, thành phố N, bị cáo Phạm Hoài N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,256 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là đối tượng có nhân thân xấu.

Về hình phạt: Xét bị cáo Phạm Hoài N là đối tượng có nhân thân xấu, đã được giáo dục nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy trong phong bì niêm phong số 442/KL-KTHS là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen (đã cũ) là tài sản của bị cáo Phạm Hoài N, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo, song tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Phạm Hoài N hiện tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát G1-16949, hiện chưa xác minh được nguồn gốc nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố N đã tách ra để điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Phạm Hoài N bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hoài N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoài N 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08 tháng 3 năm 2023.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 442/KL-KTHS. Trả lại cho bị cáo Phạm Hoài N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen đã cũ, song tạm giữ để bảo đảm thi hành án (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-6-2023).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Hoài N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Hoài N được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ