vanban.org

Bản án 161/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị K:

08 (Tám) năm tù, về tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy”; 02 (Hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "161 - 2021 Nguyễn Thị K - K1 Đ249 + điểm a K2 Đ255 - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị K:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 161/2021/HS-ST
Ngày: 30 – 11 – 2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Đặng Thu Vân.

2/ Bà Nguyễn Thị Kính.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2021, t i tr s Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số 93/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2021, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 187/2021/QĐXXST-HS, ngày 18/10/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị K (còn lấy tên khác là Lâm Thị K, Lâm Thị Ngọc K, Nguyễn Thị Thùy Trang), sinh năm: 1979, t i: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: (Hộ khẩu thường trú: Không có; chỗ : Phòng số 2, nhà trọ số 230/5 Đường PĐ, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Làm công; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Hoa; giới Th: Nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn A (đã chết) và bà Nguyễn Thị U (đã chết); chồng, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Nhân thân: T i bản án hình sự sơ thẩm số 121/HSST ngày 11/7/1997, Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 36 tháng tù, về tội “Cướp giật tài sản của công dân” (khi bị bắt lấy tên là Lâm Thị Ngọc K, sinh năm: 1976). T i bản án hình sự sơ thẩm số 121/2008/HSST ngày 31/7/2008, Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử ph t 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (khi bị bắt lấy tên là Lâm Thị K, sinh năm: 1979). Ngày 17/6/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào cơ s cai nghiện ma túy bắt buộc để chữa bệnh, thời h n 24 tháng, vì sử d ng trái phép chất ma túy; sau đó bị áp d ng biện pháp quản lý sau cai nghiện 12 tháng, t i Trung tâm Giáo d c - Lao động xã hội Phú Nghĩa, kể từ ngày 13/6/2013. Ngày 27/6/2016, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện ma túy bắt buộc, thời h n 24 tháng.

Bị cáo bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 28/10/2020 đến nay. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ, ngày 28/10/2020, Công an Phường 16, Quận 8 kiểm tra hành chính phòng trọ số 2, nhà số 230/5 Đường PĐ, Phường M, Quận B do Nguyễn Thị K thuê , t i phòng trọ còn có mặt Ph m Trung T. Qua kiểm tra, Công an yêu cầu K m hộp thiếc để dưới nền nhà sát tường thì phát hiện bên trong có 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng là ma túy; nên Công an thu giữ vật chứng, dẫn giải K về tr s Công an Phường lập biên bản bắt người ph m tội quả tang, t m giữ của K 01 điện tho i OPPO, gắn sim số 0702975934 và 02 ống K tiêm. Lúc bị bắt quả tang, K khai tên Nguyễn Thị Thùy Trang. Sau đó, toàn bộ v việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 để điều tra làm rõ.

Theo Bản kết luận giám định số 1884/KLGĐ-H ngày 04/11/2020, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Bột màu trắng trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thùy Trang và hình dấu Công an Phường 16, Quận 8 (Ký hiệu mẫu m) cần giám định là ma túy thể rắn, có tổng khối lượng 0,3513g (không phẩy ba năm một ba gam), lo i Heroine.

T i Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị K khai nhận: K và Ph m Trung T có mối quan hệ tình cảm giống như vợ chồng; từ tháng 6/2010, T thường xuyên đến chỗ của K chơi và thỉnh thoảng có l i đây vài ngày; cả hai cùng nghiện ma túy và nhiều lần cùng nhau sử d ng ma túy, trung bình 01 tháng/lần.

Vào khoảng 07 giờ, ngày 28/10/2020, K đi đến khu vực ngã ba đường HT – CS, Phường M, Quận B gặp và mua của một người ph nữ (không rõ lai lịch) 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng, rồi mang về nhà. K phân gói ma túy mua được thành 02 gói và bỏ vào trong hộp thiếc, còn một ít ma túy K bỏ vào ống tiêm và rủ T cùng sử d ng; sau khi cả hai sử d ng xong thì tổ công tác Công an Phường đến kiểm tra hành chính và phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Qua điều tra xác định, K đã tổ chức cho T sử d ng ma túy tổng cộng 03 (Ba) lần t i phòng trọ của K như trên (Lần 1: Vào tháng 8/2020 (không nhớ rõ ngày); lần 2: Vào tháng 9/2020 (không nhớ rõ ngày), lần 3: Vào ngày 28/10/2020).

Lời khai của Nguyễn Thị K phù hợp với lời khai của Ph m Trung T và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi số 1884/2020 (Q8), chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thùy Trang, hình dấu Công an Phường 16, Quận 8, chữ ký ghi tên Giám định viên Bùi Công Danh;

- 01 điện tho i di động, hiệu OPPO, gắn sim số 0702975934;

- 02 ống K tiêm dùng để sử d ng ma túy và 01 hộp K lo i sơn màu hồng xanh (dùng để chứa ma túy).

Đối với Ph m Trung T, qua điều tra xác định không phải là đồng ph m với Nguyễn Thị K, tuy nhiên T có hành vi sử d ng trái phép chất ma túy; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 bàn giao cho Công an Phường 16, Quận 8 xử lý theo thẩm quyền.

Đối với người ph nữ bán ma túy cho Nguyễn Thị K, qua xác minh không rõ lai lịch; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có cơ s để xử lý.

Bản cáo tr ng số 110/CT-VKSQ8 ngày 10/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 và theo điểm a Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

T i phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng:

- Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm a Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử ph t:

Bị cáo Nguyễn Thị K mức án:

+ Từ 08 năm tù đến 09 năm tù, về tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy”;

+ Từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Tổng hợp hình ph t theo quy định pháp luật.

- Miễn ph t bổ sung cho bị cáo.

- Về vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói được niêm phong bên ngoài có ghi ký hiệu 1884/2021 (Q8), chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thùy Trang, hình dấu Công an Phường 16, Quận 8 và chữ ký giám định viên Bùi Công Danh (vì qua giám định bên trong chứa chất ma túy độc h i, cấm tàng trữ, sử d ng, lưu hành trái phép);

+ Tịch thu tiêu hủy: 02 (Hai) ống bơm K tiêm, 01 (Một) hộp đựng bằng K lo i sơn màu hồng xanh (vì đây là những d ng c dùng vào việc ph m tội và không có giá trị sử d ng);

+ Trả l i cho bị cáo Nguyễn Thị K 01 (Một) điện tho i di động hiệu Oppo, màu đen, gắn sim liên l c số 0702975934, số Imei: Không có (do không liên quan hành vi ph m tội của bị cáo).

* Bị cáo Nguyễn Thị K thừa nhận hành vi ph m tội, không có ý kiến tranh luận và không bào chữa, bị cáo chỉ xin được giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của: Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không có khiếu n i gì về hành vi và quyết định của người tiến hành tố t ng, của Cơ quan tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi tố t ng, quyết định tố t ng của người tiến hành tố t ng, của Cơ quan tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị K đã khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội đã thực hiện như Cáo tr ng đã nêu.

Hành vi ph m tội của bị cáo đã bị lực lượng Công an kịp thời phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng, vào khoảng 09 giờ, ngày 28/10/2020, t i phòng trọ số 2, nhà số 230/5 Đường PĐ, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thị K còn khai nhận việc bị cáo đã lấy địa điểm nơi của mình quản lý (phòng trọ nêu trên) để tổ chức cho Nguyễn Trung T sử d ng trái phép chất ma túy cùng bị cáo (bị cáo K là người trực tiếp đi mua và cung cấp ma túy, cung cấp các d ng c cần thiết khác cho việc sử d ng trái pháp chất ma túy).

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có t i hồ sơ v án và phù hợp với nội dung Cáo tr ng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Qua giám định, chất ma túy thu giữ có tổng khối lượng là 0,3513g (không phẩy ba năm một ba gam), lo i Heroine; đủ khối lượng để truy tố đối với hành vi ph m tội của bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự.

Do đó, đã có đủ cơ s đế kết luận:

Bị cáo Nguyễn Thị K đã ph m vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (thuộc trường hợp Heroine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 5 gam), tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy”, tội ph m và hình ph t được quy định t i Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung hình ph t:

- Đối với v án “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy”: Bị cáo Nguyễn Thị K thừa nhận đã 03 (Ba) lần tổ chức cho Nguyễn Trung T sử d ng trái phép chất ma túy cùng với bị cáo t i nơi của bị cáo (phòng trọ số 2, nhà số 230/5 Đường PĐ, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) và t i cơ quan điều tra, Nguyễn Trung T cũng xác nhận lời khai như trên của bị cáo Nguyễn Thị K.

Do đó, bị cáo Nguyễn Thị K đã ph m tội thuộc trường hợp “Ph m tội 02 lần tr lên’’. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung hình ph t được quy định t i điểm a Khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà bị cáo Nguyễn Thị K phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Thị K phải bị xét xử theo quy định t i tình tiết này.

Đối với hình vi “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Bị cáo Nguyễn Thị K là người chịu toàn bộ trách nhiệm hình sự mà bị cáo đã thực hiện.

Trong lần xét xử này, bị cáo Nguyễn Thị K phải bị tổng hợp hình ph t theo quy định t i Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với từng hành vi ph m tội mà bị cáo đã thực hiện.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có quá trình nhân thân xấu (đã từng nhiều lần bị Tòa án xét xử và từng nhiều lần bị bắt đưa đi cai nghiện ma túy bắt buôc), nhưng không chịu sửa chữa lỗi lầm, không chịu tu dưỡng và phấn đấu thành công dân sống có ích mà l i tiếp t c thực hiện hành vi ph m tội với lỗi cố ý, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cũng cần lưu ý khi quyết định hình ph t đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: T i Cơ quan điều tra cũng như t i phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định t i điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình ph t mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Bản Cáo tr ng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Nguyễn Thị K là có cơ s pháp luật, đúng người, đúng tội; quan điểm luận tội của đ i diện Viện kiểm sát đối với bị cáo t i phiên tòa là có cơ s pháp luật; mức án mà Kiểm sát viên đề nghị phù hợp với Th chất, mức độ ph m tội và nhân thân của bị cáo; nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình ph t bổ sung:

- Theo quy định t i Khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị ph t tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ph t quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xét thấy bị cáo K ph m tội không nhằm m c đích hư ng lợi và có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, khó thi hành (thu nhập không ổn định); nên Hội đồng xét xử không ph t bổ sung đối với bị cáo.

- Theo quy định t i Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì bị cáo còn có thể bị ph t tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức v , cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xét thấy bị cáo K tàng trữ trái phép chất ma túy chỉ để sử d ng, không có chức v , không có công việc làm ổn định, không có thu nhập ổn định và khó thi hành; nên Hội đồng xét xử không ph t bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng liên quan:

- Đối với 01 (Một) gói được niêm phong bên ngoài có ghi ký hiệu 1884/2021 (Q8), chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thùy Trang, hình dấu Công an Phường 16, Quận 8 và chữ ký giám định viên Bùi Công Danh: Qua giám định bên trong chứa chất ma túy độc h i, cấm tàng trữ trái phép, cấm lưu hành trái phép; nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 02 (Hai) ống bơm K tiêm, 01 (Một) hộp đựng bằng K lo i sơn màu hồng xanh: Là các d ng c dùng vào việc ph m tội và không có giá trị sử d ng, nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (Một) điện tho i di động hiệu Oppo, màu đen, gắn sim liên l c số 0702975934, số Imei: Không có: Do không liên quan đến hành vi ph m tội của bị cáo K; nên trả l i cho bị cáo K.

Đối với Ph m Trung T, qua điều tra xác định không phải là đồng ph m với Nguyễn Thị K, tuy nhiên T có hành vi sử d ng trái phép chất ma túy; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 bàn giao cho Công an Phường 16, Quận 8 xử lý theo thẩm quyền là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Đối với người ph nữ bán ma túy cho Nguyễn Thị K, qua xác minh không rõ lai lịch; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có cơ s để xử lý trong v án này, là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Đối với chủ căn nhà số 230/5 Đường PĐ, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; do không liên quan đến v án; nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều 255; điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị K:

+ 08 (Tám) năm tù, về tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy”;

+ 02 (Hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình ph t tù chung của 02 (Hai) tội là 10 (Mười) năm tù. Thời h n tù Th kể từ ngày 28/10/2020.

- Về hình ph t bổ sung:

+ Không ph t bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị K về tội “Tổ chức sử d ng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;

+ Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) gói được niêm phong bên ngoài có ghi ký hiệu 1884/2021 (Q8), chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Thùy Trang, hình dấu Công an Phường 16, Quận 8 và chữ ký giám định viên Bùi Công Danh; 02 (Hai) ống bơm K tiêm; 01 (Một) hộp đựng bằng K lo i sơn màu hồng xanh.

+ Trả l i cho bị cáo Nguyễn Thị K 01 (Một) điện tho i di động hiệu Oppo, màu đen, gắn sim liên l c số 0702975934, số Imei: Không có.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 10/5/2021 t i Chi c c Thi hành án dân sự Quận 8, TP.HCM).

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015 vaø Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Thị K phải chịu số tiền là 200.000đđồng (Hai trăm nghìn đồng).

Thi hành t i Chi c c Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời h n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ