- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 161/2020/HSST Ngày: 16/12/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sơn Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Bùi Thị Cẩm Vân
2/ Ông Lê Văn Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 141/2020/TLST-HS ngày 03/11/2020, đối với bị cáo:
Lê Văn H; Sinh năm: 1968 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: không đăng ký thường trú; Nơi đã cư trú: Nhà không số, tổ 29, khu phố a, phường B, quận C, Tp. Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: sơn nước; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Nguyễn Thị S; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền án:
- Ngày 06/01/1992, bị Công an quận Phú Nhuận bắt về tội “Cướp tài sản của công dân”, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù giam theo bản án số 408 ngày 09/7/1992. Tòa phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân tối cao xử phúc thẩm phạt 07 năm tù, theo bản án số 40/HSPT ngày 13/01/1993. Ra tù ngày 06/01/1999, chưa đóng án phí
- Ngày 14/6/1999, bị Công an Quận 12 bắt về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù giam theo bản án số 3330/HSST ngày 20/12/1999. Ra tù ngày 10/11/2001, chưa đóng án phí.
- Ngày 10/01/2005, bị Công an quận Phú Nhuận bắt về tội “Trộm cắp tài sản”, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 05 năm tù giam theo bản án số 127/2005/HSST ngày 12/8/2005. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phúc thẩm phạt 05 năm tù giam theo bản án số 536/HSPT ngày 25/10/2005. Chưa đóng án phí và tiền nộp phạt.
Tiền sự: không
Nhân thân:
- Ngày 04/01/1983, bị Công an quận Bình Thạnh bắt nghi vấn tội “Cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân”, được tha về.
- Ngày 09/6/1988, bị Công an quận Gò Vấp bắt về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 02 năm tù giam theo bản án số 35/HSST ngày 09/6/1988. Ra tù ngày 22/01/1990.
- Ngày 21/3/1990, bị Công an quận Phú Nhuận bắt về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, bị xử phạt hành chính.
Tạm giam: 29/07/2020, bị cáo có mặt tại phiên tòa
Bị hại: Ông Trần Văn C (vắng mặt)
HKTT : 28 ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre
Chỗ ở : Phòng trọ số 01 nhà số 30, A, phường B, quận C, Tp. Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 02 giờ ngày 28/7/2020, Lê Văn H mang theo trong người 01 bộ đoản phá khóa xe mô tô, đi xe ôm từ nhà trọ của H đến khu vực Bến xe miền Đông xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đến trước phòng trọ số 1 nhà số 30 A, phường B, quận C, H thấy xe Honda AirBlade, biển số: 71C2-312.36 dựng không người trông coi, nên H dùng cây đoản bẻ khóa cổ xe, công tắc xe, dẫn xe ra đường rồi nổ máy chạy đến cầu Đỏ thì vất bỏ cây đoản xuống sông. Sau đó, H chạy xe về cất giữ tại nhà trọ của H (địa chỉ: nhà không số, tổ A, khu phố B, phường C, Quận 12).
Đến khoảng 6 giờ 30 phút cùng ngày, ông Trần Văn C phát hiện bị mất xe trên, ông C mở định vị xe máy trên điện thoại thì thấy phát tín hiệu xe tại khu vực phường An Phú Đông, Quận 12, nên ông C đến Công an phường 26, quận Bình Thạnh trình báo. Công an phường 26 cùng Đội Cảnh sát hình sự quận Bình Thạnh đã đi cùng ông C đến phối hợp với Công an phường An Phú Đông, Quận 12 đến kiểm tra hành chính nhà trọ của H thì thu giữ được xe Honda AirBlade, BS: 71C2-312.36 đang để trong nhà trọ. Lực lượng Công an kiểm tra và bắt giữ Lê Văn H cùng tang vật đưa về trụ sở Công an phường 26, quận Bình Thạnh lập hồ sơ chuyển Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh xử lý theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Tại bản kết luận định giá số 341/KLĐGTS-TCKH ngày 14/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh kết luận: 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda AirBalde, biển số: 71C2-312.36 có giá trị: 22.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 137/CT-VKSBT ngày 30 tháng 10 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi luận tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời nói sau cùng của bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng làm người công dân tốt cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lời khai của người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ, cho thấy:
Vào khoảng 02 giờ ngày 28/7/2020, tại phòng trọ số 1, nhà số 30 A, phường B, quận C, lợi dụng lúc Bị hại Trần Văn C sơ hở, Lê Văn H đã lén lút trộm cắp 01 xe gắn máy hiệu Honda AirBalde, biển số: 71C2-312.36 của ông C. Căn cứ bản kết luận định giá số 341/KLĐGTS-TCKH ngày 14/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh kết luận: 01 xe gắn máy hai bánh hiệu Honda AirBalde, biển số: 71C2-312.36 có giá trị: 22.000.000 đồng. Bị cáo có 03 tiền án, đã tái phạm chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục cố ý phạm tội. Như vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn H đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, có 03 tiền án chưa được xóa án tích nhưng không chịu cải sửa bản thân, làm lại cuộc đời, làm người có ích cho xã hội, tìm kiếm những đồng tiền bằng những việc làm chân chính mà lại tiếp tục sa lầy, chỉ vì cần tiền tiêu xài mà không phải bỏ công sức để lao động, tiếp tục hành vi cố ý pham tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, xét cần xử phạt nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét tại phiên tòa hôm nay, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về vật chứng: Đã xử lý xong trong giai đoạn điều tra, cụ thể như sau:
- 01 xe Honda AirBlade, Biển số: 71C2-312.36, số máy: JF46E-7526259, số khung: RLHJF4613EZ-726237. Qua xác minh, chiếc xe trên do ông Trần Văn C đứng tên chủ sở hữu.
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 005917, mang tên Trần Văn C.
- 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Trần Văn C, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Trần Văn C, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn C.
Tất cả số vật chứng trên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Trần Văn C.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Trần Văn C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 05 năm 06 tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 29/07/2020
- Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND q.Bình Thạnh; - Nhà tạm giữ - CA quận Bình Thạnh; - Chi cục THA quận Bình Thạnh; - Thi hành án hình sự; - PC.27 Công an Tp.HCM; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu VP - HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sơn Thủy |