- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” .
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HS-ST Ngày 21/3/2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Tại điểm cầu trung tâm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Đình Sở.
Ông Trần Tiến Dũng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Cường, Thư ký viên - Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu, Kiểm sát viên.
Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ:
Đại diện Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: Ông Lê Anh Xuân Ngọc – Thư ký viên;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ: Ông Nguyễn Giang Nam - Kiểm sát viên;
Ngày 21 tháng 3 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; 01 điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 25/01/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 08/3/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: TRẦN VĂN T. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/10/1975 tại Thanh Sơn, Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT + Chỗ ở hiện nay: xóm Liệm, xã Lương Nha, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Trần Văn T (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị C, sinh năm: 1943; Vợ: Phan Thị M, sinh năm: 1979; Con: Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2007;
- Tiền án: Bản án số 64/2021/HS-ST ngày 05/7/2021 của TAND thành phố Hòa Bình xử phạt 15 tháng tù về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 29/5/2022, Trần Văn T chấp hành xong án phạt tù.
- Tiền sự: Ngày 12/10/2023, Ủy ban nhân dân xã Yên Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời gian 06 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/12/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam - Công an tỉnh Phú Thọ.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T - Bà Đinh Thị Hạnh trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Phú Thọ(Bà Hạnh có mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Quang Sơn, Sinh năm 1987
Địa chỉ: Xóm Liên Thành, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
(anh Sơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 15 phút ngày 13/12/2023, tại nhà ở của Trần Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Sơn bắt quả tang T đang có hành vi tổ chức cho Trần Quang Sơn sử dụng trái phép chất ma túy Heroine tại gian phòng ngủ nhà ở của mình. Cơ quan Công an thu giữ của Trần Văn T 02 gói giấy đều có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng, bên trong đều chứa chất bột, cục màu trắng, T khai ma túy loại Heroine của T vừa bỏ ra để sử dụng cùng Trần Quang Sơn; 01 mảnh giấy màu bạc cả hai mặt đều có những phần đã bị than hóa, tại vị trí bị than hóa màu đen có bám dính chất màu nâu; 01 bật lửa gas màu đỏ, đã cũ, không có nhãn hiệu. T khai mảnh giấy bạc và bật lửa là T vừa sử dụng để đốt, hít ma túy vào cơ thể. Thu giữ của Trần Quang Sơn 01 xilanh nhựa loại 06ml/cc, màu trắng, đã qua sử dụng, bên trong bám dính chất dịch màu trắng, Sơn khai là xilanh của Sơn vừa sử dụng để tiêm, chích ma túy vào cơ thể. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn tạm giữ của Trần Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu đen, đã cũ, bên trong gắn sim số 0969.174.989.
Tại cơ quan điều tra, Trần Văn T khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T đã đi đến khu vực xã Yên Mông, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình tìm và mua được của một người phụ nữ không quen biết 02 gói ma túy Heroine đều được gói bằng giấy có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng với giá 500.000đ về để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà tại xóm Liệm, xã Lương Nha, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ thì gặp Trần Quang Sơn đến chơi. Do biết Sơn cũng sử dụng ma túy Heroine nên T đã rủ Sơn vào buồng ngủ của nhà T để cùng nhau sử dụng ma túy thì Sơn đồng ý. Tại gian buồng ngủ, T bỏ ra 02 gói ma túy vừa mua được tại xã Yên Mông - thành phố Hòa Bình để cùng sử dụng với Sơn. T và Sơn cùng sử dụng hết một phần ma túy của một gói (Sơn sử dụng ma túy bằng hình thức tiêm, chích qua xilanh, còn T sử dụng ma túy bằng hình thức đốt, hít qua mảnh giấy bạc), phần còn lại T gói lại bằng giấy có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng như cũ rồi cất giữ hai gói ma túy với mục đích khi nào có nhu cầu sẽ lấy ra sử dụng. Khi T và Sơn đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Công an đến phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số: 1572/KL-KTHS ngày 17/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Chất bột cục màu trắng chứa trong 02 gói giấy đều có đặc điểm mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng trong Bì số 1 ghi Vật chứng thu giữ của Trần Văn T gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin), có tổng khối lượng là: 0,039gam.
- Chất màu nâu bám dính trên bề mặt than hóa màu đen của 01 gói giấy bạc trong Bì số 1 ghi Vật chứng thu giữ của Trần Văn T gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine (Heroin).
- Trong dịch màu trắng chứa trong 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 06ml/cc đã qua sử dụng trong Bì giấy số 02, mặt trước ghi Vật chứng thu giữ của Trần Quang Sơn gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy Heroine (Heroin).
* Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Hoàn lại đối tƣợng giám định: 0,023gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại trong Bì số 01 ghi vật chứng thu giữ của Trần Văn T; 01 xy lanh nhựa màu trắng loại 06ml/cc là mẫu vật trong bì giấy số 02, mặt trước ghi vật chứng thu giữ của Trần Quang Sơn cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán”.
Tại bản kết luận giám định số 1578/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Trong mẫu nước tiểu của Trần Văn T, sinh năm 1975, trú tại: xóm Liệm, xã Lương Nha, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ và Trần Quang Sơn, sinh năm 1987, trú tại: xóm Liên Thành, xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ gửi đến giám định tìm thấy chất ma túy, loại Morphin.
* Morphin: Số thứ tự 55, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính Phủ
Tại bản cáo trạng số: 12/CT – VKS- ThS ngày 24/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: khoản 1 Điều 255; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt Trần Văn T từ 36 (Ba mươi sáu) tháng đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam là ngày 13/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo qui định tại khoản 5 Điều 255- BLHS đối với bị cáo Trần Văn T.
* Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47- BLHS; Điều 106 - BLTTHS, tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 01 bì giấy số 1572/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ. Bì ghi: Trả lại 0,023gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại trong Bì số 01 ghi vật chứng thu giữ của Trần Văn T; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 0,6ml/cc là mẫu vật trong bì số 2, mặt trước ghi thu giữ vật chứng của Trần Quang Sơn cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
- 01 bật lửa gas, màu đỏ, đã cũ, không có nhãn hiệu thu giữ của Trần Văn T;
Trả lại cho Trần Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu đen, đã cũ, bên trong gắn sim của số điện thoại 0969.174.989 do không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T:
Bà Hạnh đề nghị HĐXX xem xét đến tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật cho bị cáo T được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của bản thân, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội và cũng là thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng trong chính sách của nhà nước ta đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải.
Bị cáo T không tranh luận gì với Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo rất hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về cộng đồng và sống có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.
. Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng không có gì oan sai. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 13 giờ 00 phút ngày 13/12/2023 tại xóm Liệm, xã Lương Nha, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Trần Văn T có hành vi cung cấp ma túy, loại Heroine và sử dụng địa điểm là phòng ngủ tại nhà ở của mình cho Trần Quang Sơn sử dụng ma túy bằng hình thức tiêm, chích vào cơ thể, hành vi đó của Trần Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều Điều 255 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng bởi hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, các chất gây nghiện, chất hướng thần, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tổ chức sử dụng chất ma túy trái phép bị pháp luật nghiêm cấm. Xong bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, điều đó chứng tỏ sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy cần căn cứ vào tính chất, hành vi nguy hiểm của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng, phòng ngừa và làm gương cho người khác.
. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có thân nhân xấu, có 01 tiền án, 01 tiền sự đều liên quan đến ma tuý. Nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về ma túy, nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52- BLHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51-Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo trình bày, bị cáo tham gia bộ đội được tặng giấy khen và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và gia đình bị cáo không xuất trình được giấy khen, trong hồ sơ cũng không có tài liệu nào thể hiện bị cáo được tặng thưởng giấy khen, nên HĐXX không có cơ sở để xem xét.
Căn cứ nhân thân, tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, nên cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm khắc trên mức đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo sớm hoàn lương trở thành người sống có ích cho gia đình và xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 255- BLHS thì bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Căn cứ vào các tài liệu xác minh của cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã chứng minh, bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định, hiện sống cùng mẹ đẻ và vợ con tại xã Lương Nha nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về nguồn gốc ma túy: T khai mua tại xã Yên Mông, thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình của một người phụ nữ không quen biết 02 gói ma túy Heroine đều được gói bằng giấy có mặt ngoài màu trắng, mặt trong màu vàng với giá 500.000đ về để sử dụng. Ngoài lời khai của T không có chứng cứ nào khác, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ xử lý đối với người phụ nữ đã bán ma tuý cho T vào ngày 13/12/2023.
. Về vật chứng vụ án: Ma túy do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi lưu hành của các cá nhân, tổ chức; Vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo qui định pháp luật, gồm:
- 01 bì giấy số 1572/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ. Bì ghi: Trả lại 0,023gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại trong Bì số 01 ghi vật chứng thu giữ của Trần Văn T; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 0,6ml/cc là mẫu vật trong bì số 2, mặt trước ghi thu giữ vật chứng của Trần Quang Sơn cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
- 01 bật lửa gas, màu đỏ, đã cũ, không có nhãn hiệu thu giữ của Trần Văn T;
Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu đen, đã cũ, bên trong gắn sim của số điện thoại 0969.174.989 thu giữ của Trần Văn T, vào ngày 13/12/2023, cần trả lại cho bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các nội dung khác:
Đối với Trần Quang Sơn: Ngày 13/12/2023, Trần Quang Sơn đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine tại nhà ở của Trần Văn T thuộc xóm Liệm, xã Lương Nha, huyện Thanh Sơn. Quá trình điều tra xác định, Sơn không liên quan gì đến hành vi mua và tàng trữ ma túy của T, việc Sơn cùng T sử dụng ma túy là do T rủ và cho Sơn ma túy. Do đó, Công an huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Quang Sơn về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ là đúng quy định pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Khoản 1 Điều 255; Điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” .
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 04 (Bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung theo qui định tại khoản 5 Điều 255 cho bị cáo Trần Văn T.
2 . Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 - BLHS; Điểm a, c khoản 2; Điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 01 bì giấy số 1572/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ. Bì ghi: Trả lại 0,023gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại trong Bì số 01 ghi vật chứng thu giữ của Trần Văn T; 01 xi lanh nhựa màu trắng loại 0,6ml/cc là mẫu vật trong bì số 2, mặt trước ghi thu giữ vật chứng của Trần Quang Sơn cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
- 01 bật lửa gas, màu đỏ, đã cũ, không có nhãn hiệu thu giữ của Trần Văn T;
Trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các tài sản sau:
Trả lại cho Trần Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu đen, đã cũ, bên trong gắn sim của số điện thoại 0969.174.989 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng là đồ vật được tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn theo biên bản ngày 26/01/2024.
3. Về Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - VKSND huyện; - VKSND tỉnh PT; - Trại tam giam CA tỉnh PT; - Công an huyện; - Cơ quan THA Dân sự; - UBND xã Lương Nha; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS-VP. ` | Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Đào Thị Anh Nhinh |