- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Đ buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lường Văn Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đông A THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ________________________ Bản án số: 16/2023/HSST Ngày: 17/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đông A – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:
Bà Đỗ Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Đức.
Ông Nguyễn Văn Nam.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023 và đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn Đ. Giới tính: Nam. Sinh ngày 26/6/1997 tại Bắc Giang. Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn D, xã Đồng C, huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 0/12. Con ông: Lường Văn P, sinh năm 1966 và bà: Lê Thị O, sinh năm 1974. Tiền án, tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đông A. Danh, chỉ bản số 02 ngày 22/12/2022 của công an huyện Đông A, Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1973; trú tại: Tổ 3 thị trấn Đông A, huyện Đông A, thành phố Hà Nội và Lường Văn Đ làm cùng Công ty TNHH KTH Hà Nội. Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2022 do Công ty mất điện nên anh Nguyễn Văn H rủ Đ đến khu vực Ga Đông A chơi. Tại đây, anh H và Đ có gặp nam thanh niên tên H1 (khoảng 32 tuổi, không rõ nhân thân, lai lịch, sử dụng số điện thoại 0976.886.518 là người quen của H). Khi 03 người đang ngồi uống nước thì H phải đi về giao hàng cho vợ nên H thanh toán tiền nước và về trước. Sau đó H1 đi chơi cùng Đ. H1 chở Đ đến nhà nghỉ Minh H, địa chỉ tại tổ 15 thị trấn Đông A, huyện Đông A. Đến nơi, H1 bảo Đ “vào lấy một phòng đi, tý anh quay lại anh trả tiền”. Đ đồng ý rồi vào thuê một phòng 201.
Khoảng 11 giờ 10 phút cùng ngày H1 dùng số điện thoại 0876.886.518 gọi tới số điện thoại 0328.28.660 cho Đ và nói “Xuống cổng xách cho anh cái bao lên phòng cất”, Đ đi xuống cổng của nhà nghỉ nhận bao tải từ H1 sau đó mang lên phòng 201. Sau khi mang lên phòng, Đ mở ra kiểm tra và biết trong bao tải có 08 (tám) hộp pháo hoa nổ, ngoài vỏ các hộp pháo có màu Xanh- Đỏ - Đen, các hộp pháo chưa sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 20 phút H1 gọi điện cho Đ và nói “Tý nữa có khách đến lấy em đưa cho người ta nhé”, Đ đồng ý và tiếp tục ở tại nhà nghỉ. Lúc sau Đ có nhận được tin nhắn từ số thuê bao 0876.886.518 của H1 với nội dung “Tám hộp pháo nổ gốc năm triệu tý bán được tám triệu tôi cho ông một triệu ô kê không”. Do không biết đọc và viết nH1 Đ có sử dụng điện thoại nhãn hiệu OPPO A74, trong điện thoại có phần mềm “Google dịch” dịch tin nhắn và phát âm thành tiếng, Đ sử dụng phần mềm trên dịch tin nhắn của nam thanh niên tên H1 gửi, sau khi nghe dịch tin nhắn Đ đồng ý và tiếp tục trông giữ số pháo trên đồng thời chờ khách đến để giao pháo. Đến khoảng 11 giờ 35 phút cùng ngày Đ nhận được tin nhắn của H1 với nội dung “Chỗ ông hay bán pháo hoa nổ giàn ba sáu giá bao nhiêu giá trên có ô kê không khách hẹn mười hai giờ mười qua lấy”. Do máy hết tiền nên Đ không trả lời tin nhắn. Đến khoảng 12 giờ 05 phút cùng ngày H1 có gọi điện thoại cho Đ và nói “Xách xuống cổng đi”, Đ hiểu ý và xách bao tải đựng tám hộp pháo hoa nổ mang xuống để giao cho khách. Khi Đ đi xuống đến sảnh tầng 1 của nhà nghỉ thì anh Nguyễn Quốc Thanh (Sinh năm 1987, là chủ nhà nghỉ) cùng anh Lê Hoàng H1 (Sinh năm 2001, là bạn anh Thanh) có nghi ngờ hỏi Đ “Mày cho anh xem mày mang cái gì”, biết là pháo hoa nổ nhà nước cấm kinh doanh mua bán và tàng trữ, sợ bị phát hiện Đ không đồng ý cho xem, thấy vậy anh Thanh báo cho Công an thị trấn Đông A đến kiểm tra và tạm giữ của Đ:
- 01 (một) bao tải bên trong chứa 08 (tám) khối pháo hình hộp màu đỏ, vàng gồm: 01 (một) khối hình hộp kích thước mỗi khối hộp (12 x 15 x 15) cm, bên ngoài được dán giấy màu xanh, đỏ, đen, bên trong có 36 ống hình trụ tròn đường kính khoảng 2 cm, bên ngoài các khối hộp có in chữ nước ngoài; 07 (bảy) khối hình hộp kích thước mỗi khối hộp (12,5 x 14,5 x 14,5) cm, bên ngoài được dán giấy màu xanh, đỏ, đen, bên trong có 36 ống hình trụ tròn đường kính khoảng 2 cm, bên ngoài các khối hộp có in chữ nước ngoài.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu xanh, số Imei1: 860821052181672, số Imei2: 860821052181664 bên trong lắp thẻ sim số: 032828660.
- 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
Cơ quan điều tra – Công an huyện Đông A đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lường Văn Đ nH1 không phát hiện, thu giữ gì.
Tại Kết luận giám định số: 8430/KLGĐ-PC09 ngày 20/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận:
- 07 (bảy) khối hình hộp kích thước mỗi khối hộp (12,5 x 14,5 x 14,5) cm, bên ngoài được dán giấy màu xanh, đỏ, đen, bên trong có 36 ống hình trụ tròn đường kính khoảng 2 cm đều là pháo hoa nổ. Tổng khối lượng 9,8 kg.
- 01 (một) khối hình hộp kích thước mỗi khối hộp (12 x 15 x 15) cm, bên ngoài được dán giấy màu xanh, đỏ, đen, bên trong có 36 ống hình trụ tròn đường kính khoảng 2 cm là pháo hoa nổ, khối lượng 1,3 kg.
Tổng khối lượng pháo thu giữ của Lường Văn Đ là 11,1kg.
Tại cơ quan điều tra, Lường Văn Đ khai nhận: Thông qua tin nhắn của H1 gửi cho Đ, Đ biết và nhận thức được H1 nhờ Đ giao pháo nổ cho khách là để bán và Đ sẽ được H1 trả công 1.000.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định số thuê bao: 0876.886.518 là của Trương Đức M (Sinh năm 2007, địa chỉ: 83/60 Năm C, phường 11, quận Tân B, thành phố Hồ Chí Minh). Quá trình xác minh xác định hiện nay Trương Đức M không có mặt tại nơi cư trú.
Đối với nam thanh niên tên H1 đi cùng Lường Văn Đ đến nhà nghỉ Minh H để cùng thực hiện hành vi buôn bán pháo thì thấy: Lường Văn Đ và Nguyễn Văn H đều khai không biết rõ nhân thân, lai lịch của H1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đông A không có căn cứ để xử lý.
Đối với Nguyễn Văn H đi cùng Lường Văn Đ sau đó về trước, không biết và không liên quan đến việc Đ buôn bán hàng cấm (pháo), do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đông A không đề cập xử lý.
Đối với 01 (một) bao tải bên trong chứa 9,2kg pháo hoa nổ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu xanh, số Imei1: 860821052181672, số Imei2: 860821052181664 bên trong lắp thẻ sim số: 032828660 và 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) là vật chứng của vụ án chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông A phục vụ công tác xét xử.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi buôn bán 11,1 kg pháo hoa nổ nhằm hưởng lợi 1.000.000 đồng vào ngày 16/12/2022 tại nhà nghỉ Minh H ở tổ 15, thị trấn Đông A, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
Tại cáo trạng số 05/VKS-HS ngày 03 tháng 01 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A, thành phố Hà Nội đã truy tố Lường Văn Đ về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lường Văn Đ với mức án từ 18 tháng đến 22 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu xanh, số Imei1: 860821052181672, số Imei2: 860821052181664 bên trong lắp thẻ sim số: 032828660 và 100.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao tải đã niêm phong bên trong chứa 07 giàn pháo hoa dạng nổ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
{1} Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đông A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
{2}Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó xác định được: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 16/12/2022, tại nhà nghỉ Minh H ở tổ 15, thị trấn Đông A, huyện Đông A, thành phố Hà Nội, Lường Văn Đ đã có hành vi buôn bán 11,1 kg pháo hoa nổ nhằm hưởng lợi 1.000.000 đồng thì bị Công an phát hiện bắt giữ. Vì vậy, đủ cơ sở kết luận bị cáo Lường Văn Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự, điều khoản này quy định hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn huyện Đông A. Bị cáo nhận thức được pháo nổ là loại hàng hóa mà Nhà nước không cho phép lưu thông trên thị trường, không cho phép các cá nhân buôn bán, nH1 do coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
{2.1} Về nhân thân và tình tiết tăng nặng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng.
{2.2}Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Do đó, áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
{3} Về vật chứng:
Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu xanh, số Imei1: 860821052181672, số Imei2: 860821052181664 bên trong lắp thẻ sim số: 032828660 và 100.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao tải đã niêm phong bên trong chứa 07 giàn pháo hoa dạng nổ.
{4} Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật sung vào ngân sách Nhà nước.
{5} Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lường Văn Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lường Văn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2022.
- Căn cứ Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 100.000 đồng thu của Lường Văn Đ tại Ủy nhiệm chi số: 2 lập ngày 09/01/2023 của Kho bạc Nhà nước Đông A.
+ Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu xanh, số Imei1: 860821052181672, số Imei2: 860821052181664 bên trong lắp thẻ sim số: 032828660 (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/01/2023 giữa Công an huyện Đông A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông A).
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao tải đã niêm phong bên trong chứa 07 giàn pháo hoa dạng nổ (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/01/2023 giữa Công an huyện Đông A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông A).
+ Bị cáo Lường Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M Hội đồng xét xử sơ thẩm
| Nơi nhận: - VKSND huyện Đông A. - Những người tham gia tố tụng. - Công an huyện Đông A. - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đỗ Thị Vân |