vanban.org

Bản án 16/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Phước Tuyên án 28/02/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/02/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị H.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2021/HS-ST ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo H. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 79/2021/HS-ST Tuyên án 25/11/2021
Phúc thẩm — đang xem Bản án 16/2022/HS-PT Tuyên án 28/02/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HS-PT
Ngày: 28-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Viết Hùng

Ông Lê Quang Ninh

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phương Tình - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên Tòa: Ông Hà Văn Chuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2022/HSPT ngày 11 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2021/HS-ST ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1958 tại Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Tổ 2, ấp S, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh P (đã chết) và bà Đào Thị N (đã chết); Bị cáo có chồng Phạm N (đã chết); Bị cáo có 05 người con lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1982; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 03/7/2020 UBND tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính số tiền 85.000.000đ về hành vi buôn bán hàng cấm (thuốc lá điếu nhập lậu). Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 10/7/2021, Nguyễn Thị H điều khiển xe mô tô biển số 93P1-273.29 từ thị xã B đến cửa khẩu quốc tế H Lư thuộc ấp T, xã L, huyện L mua 330 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero với giá 4.785.000đ đem về B bán kiếm lời. Sau khi mua thuốc lá xong, H chia làm 02 bịch, 01 bịch để trong cốp xe, còn 01 bịch để chỗ để chân giữa thân xe rồi điều khiển xe chạy về. Khi đến ấp 1, xã L, huyện L, Nguyễn Thị H bị Công an xã Lộc Hưng phối hợp với đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế - chức vụ Công an huyện L kiểm tra lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm (thuốc lá điếu nhập lậu).

Vật chứng thu giữ: 330 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero, 02 bọc ni lông màu đen và 01 xe mô tô màu vàng, đen, hiệu Honda, biển số 93P1-237.29.

Quá trình điều tra, xác định ngày 03/7/2020 Nguyễn Thị H bị UBND tỉnh Bình Phước xử phạt vi phạm hành chính số tiền 85.000.000đ về hành vi buôn bán hàng cấm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can Nguyễn Thị H về tội buôn bán hàng cấm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2021/HS-ST ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước đã tuyên xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (Một) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/11/2021 bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xét xử hình phạt chính là phạt tiền.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm nhận định và xin thay đổi yêu cầu kháng cáo từ kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xét xử hình phạt chính là phạt tiền sang kháng cáo xin được hưởng án treo.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định và đúng trình tự, thủ tục nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng cho bị cáo được hưởng là có thiếu sót nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng tình tiết này cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cứ trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm số 79/2021/HS-ST ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã nhận định. Lời khai của bị cáo phù hợp với thời gian và địa điểm xảy ra vụ án, phù hợp với kết quả khám nghiện hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 4 giờ 30 phút ngày 10/7/2021 bị cáo H đi xe mô tô từ nhà đến cửa khẩu quốc tế H Lư mua 330 bao thuốc lá điếu nhập lậu của một người phụ nữ không rõ nhân thân với số tiền 4.785.000đ mục đích bán lại kiếm lời. Trên đường về đến ấp 1 xã L, huyện L bị Công an xã L và đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế - chức vụ Công an huyện L tuần tra phát hiện và bắt quả tang.

Căn cứ công văn số 1690/SCT-TM ngày 05/8/2021 của Sở Công thương tỉnh Bình Phước xác định 330 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero không đủ điều kiện nhập khẩu và lưu thông tại thị trường Việt Nam.

Bị cáo buôn lậu 330 bao thuốc lá điếu nhập lậu chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nhưng do trước đó bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm (thuốc lá điếu nhập lậu) chưa được xóa đây là tình tiết định tội đối với bị cáo trong lần phạm tội này.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại cấp sơ thẩm bị cáo đã được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã lớn tuổi có bệnh huyết áp, tiểu đường và bệnh tim, bị cáo có khám bệnh và điều trị tại nhà được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 01 năm tù là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nhưng do trước đó bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm chưa được xóa đây là tình tiết định tội nên không xem xét bị cáo là người có tiền sự. Mặt khác, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng cho bị cáo được hưởng là có thiếu sót nên cấp phúc thẩm cần áp dụng cho bị cáo là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết buộc chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội đúng theo quy định Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2008 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự về án treo. Do đó kháng cáo của bị cáo H có căn cứ nên được chấp nhận.

. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Chấp nhận kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị H.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2021/HS-ST ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt đối với bị cáo H.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 190; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 28/02/2022).

Tuyên giao bị cáo Nguyễn Thị H cho UBND xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị H không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ