vanban.org

Bản án 16/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 18/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Vỹ K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Phạt Nguyễn Vỹ K 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 20/12/2020. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Vỹ K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2021/HS-ST
Ngày 18 – 3 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Yên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn việt Thắng

Ông Huỳnh Văn Năm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cẩm Hường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời tham gia phiên tòa: Ông Dương Việt Khái – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2021/HSST ngày 24 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Vỹ K; Tên gọi khác: Cù Lự; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/12/2002; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: Khóm 7, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau; Trình độ học vấn: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Cha: Nguyễn Văn K, sinh năm: 1964 (còn sống); Mẹ: Huỳnh Thị Bảo C, sinh năm: 1972 (còn sống); Em ruột gồm có 04 người (lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2005); Vợ: chưa có. Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 20/12/2020 cho đến nay.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp V, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An

(Bị cáo có mặt, chị Nguyễn Thị Thùy L vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyễn Vỹ K bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố về hành vi phạm tội như sau: Vào lúc 08 giờ ngày 20/12/2020 K đi đến bến phà thuộc khóm 7, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau gặp người tên Phương mua 500.000 đồng ma túy. Nhận hàng Phương giao K lấy cất vào ốp lưng điện thoại K đang sử dụng. Khoảng 11 cùng ngày K điều khiển xe gắn máy hiệu Exciter màng biển số kiểm soát 62G1 – 127 – 50 với mục đích đến nhà bạn tên Dương ở xã Khánh Hải, huyện Trần Văn Thời để câu cá, khi đến đoạn đường thuộc ấp Trùm Thuật A, xã Khánh Hải thì bị lực lượng phòng chống ma túy bắt giữ.

Kết quả điều tra, Nguyễn Vỹ K nhận toàn bộ diễn biến vụ việc như đã nêu trên. Kết quả giám định số 151/GĐH-PC09 ngày 22/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2963 gam loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ: Một óng thủy tinh dùng để sử dụng ma túy; 0,2963 gam ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá); 01 điện thoại hiệu Oppo đã qua sử dụng có gắn sim số 0919806871; 01 ốp lưng điện thoại; một xe gắn máy hiệu Exciter mang biển số kiểm soát 62G1 – 127 - 50 do mợ của K là Nguyễn Thị Thùy L đăng ký sở hữu.

Tại Cáo trạng số 15/CT - VKS, ngày 19/02/2021 Viện kiểm sát truy tố Nguyễn Vỹ K ra trước Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, các bị cáo nhận cáo trạng ghi đúng diễn biến hành vi tàng trữ chất ma túy như đã tóm lược. Bào chữa mình, bị cáo xác định: Bị cáo biết hành vi mua, cất dấu ma túy là vi phạm pháp luật, đã biết lỗi nên yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Luận tội đối với các bị cáo, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như cáo trạng, đề nghị: Tuyên bố Nguyễn Vỹ K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 101 Bộ luật hình sự. Đề nghị:

Phạt Nguyễn Vỹ K từ 1 năm đến 2 năm tù.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,2963 gam ma túy loại Methamphetamine sau khi đối trừ mẫu giám định.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Oppo đã qua sử dụng có gắn sim số 0919806871; 01 ốp lưng điện thoại và trả cho chị Nguyễn Thị Thùy L một xe gắn máy hiệu Exciter mang biển số kiểm soát 62G1 – 127-50.

XÉT THẤY:

Ngày 20/12/2020 Nguyễn Vỹ K liên hệ điện thoại với người tên Phương (chưa xác định được lai lịch) hỏi mua ma túy, Phương nhận lời bán cho K 500.000 đồng và giao cho K trực tiếp tại khu vực bến phà thuộc khóm 7, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. K cất dấu sau đó bị lực lượng chống ma túy kiểm tra, phát hiện là có thật.

Tại kết luận giám định số 151/GĐH-PC09 ngày 22/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sóc Trăng kết luận: Mẫu tinh thể được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2963 gam loại Methamphetamine.

Kết quả điều tra K nhận đúng vụ việc như cáo trạng nêu.

Khai nhận của Nguyễn Vỹ K phù hợp với bản cung, phù hợp diễn biến thực tế khách quan của vụ việc do Cơ quan điều tra tiến hành từ khi phát hiện đến khi truy tố các bị cáo.

Khi thực hiện hành vi trên Nguyễn Vỹ K là người trưởng thành, có có sức khỏe, nhận thức bình thường, biết được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật.

Lượng ma túy tổng hợp do K cất giữ có khối lượng bằng 0,2963 gam loại Methamphetamine nằm trong khối lượng bị xử lý trách nhiệm hình sự.

Nên kết luận: Nguyễn Vỹ K phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy – tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước đối với dược phẩm độc hại, gây nghiện, đầu độc sức khỏe, tinh thần cho đối tượng sử dụng, là mầm móng của các loại tội phạm nguy hiểm khác, là nguyên nhân gây tổn hại đến sự phát triển lành mạnh của địa phương nơi các bị cáo thực hiện. Buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết, đảm bảo hiệu quả giáo dục đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung ở địa phương. Khi xét, định lượng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử ngoài đánh giá mức độ hành vi phạm tội còn xem xét quan hệ nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khác để xác định trách nhiệm hình phạt đối với bị cáo, cụ thể:

Các tình tiết tăng nặng: Không có.

Các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo. Bị cáo có ngoại là ông Huỳnh Văn Đoàn tham gia kháng chiến chống Mỹ - là thương binh 4/4 nên áp dụng khoản 2 điều 51 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,2963 gam ma túy loại Methamphetamine sau khi đối trừ mẫu giám định.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Oppo đã qua sử dụng có gắn sim số 0919806871; 01 ốp lưng điện thoại và trả cho chị Nguyễn Thị Thúy một xe gắn máy hiệu Exciter mang biển số kiểm soát 62G1 – 127 -50.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Nguyễn Vỹ K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 101 Bộ luật hình sự.

Phạt Nguyễn Vỹ K 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày ngày 20/12/2020.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự,

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,2963 gam ma túy loại Methamphetamine sau khi đối trừ mẫu giám định.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Oppo đã qua sử dụng có gắn sim số 0919806871; 01 ốp lưng điện thoại và trả cho chị Nguyễn Thị Thùy L một xe gắn máy hiệu Exciter mang biển số kiểm soát 62G1 – 127 -50.

4. Căn cứ Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm Nguyễn Vỹ K phải chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị Thùy L có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án này theo qui định của pháp luật.

Cỡ chữ