vanban.org

Bản án 16/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

117, Điều 119 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 5 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Phan Quốc V - Huỳnh Hồng L"
  • Tòa quyết gì? 117, Điều 119 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 5 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 16/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 23-3-2021
V/v Tranh chấp cấp dưỡng và yêu cầu thay đổi
người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Minh;

2. Ông Nguyễn Lê Bảo Trúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới - thư ký Tòa án nhân dân huyện

Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa:

Bà Trầm Ngọc Minh Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét

xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2020/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6

năm 2020 về việc "Tranh chấp về cấp dưỡng và yêu cầu thay đổi người trực

tiếp nuôi con sau khi ly hôn" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

18/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phan Quốc V, sinh năm 1984. Địa chỉ: khóm A B, thị

trấn B C, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Chổ ở hiện nay: Ban chỉ huy quân sự

xã V P, huyện Tri Tôn, có mặt.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Hồng L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ 9 khóm An Hòa

A, thị trấn B C, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2020 và các lời khai tại Tòa án,

cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phan Quốc V trình bày:

Tôi và cô Huỳnh Hồng L được Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xử ly hôn

theo bản án số 27/2019/HNGĐ-ST ngày 25/6/2019, theo bản án tôi được quyền

nuôi con chung là Phan Huỳnh Quý A, sinh ngày 25/5/2011 và tại biên bản thỏa

thuận về tài sản chung của vợ chồng ngày 25/5/2019 thống nhất để căn nhà cấp

4, diện tích 5m x 15m tọa lạc tại tổ 9 đường 955B, thị trấn B C, huyện Tri Tôn,

tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH01677 cấp ngày 08/11/2011 cho con chung là Phan Huỳnh Quý A.

Tuy nhiên sau khi ly hôn cô Huỳnh Hồng L khởi kiện yêu cầu chia tài sản

chung nêu trên và được Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn giải quyết bằng quyết định công nhận chia tài sản chung sau khi ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 19/2020/QĐST – HNGĐ. Do cô L đã không thực hiện thỏa thuận về tài sản chung của vợ chồng ngày 25/5/2019 nên Tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn buộc cô Huỳnh Hồng L có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho con chung tên Phan Huỳnh Quý A theo quy định của pháp luật cho đến khi Quý Anh đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nuôi sống bản thân.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa bà Huỳnh

Hồng L trình bày như sau:

Theo bản án của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn tuyên xử cho ông Phan

Quốc V được nuôi con chung là Phan Huỳnh Quý A, sinh ngày 25/5/2011 và tôi không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền thăm nom, chăm sóc con mà không ai được ngăn cản nhưng sau khi ly hôn, tôi nhiều lần đến thăm con và bị ông Phan Quốc V có hành vi ngăn cản, chửi mắng.

Mặt khác, hiện nay ông V không có nhà cửa ổn định phải ở nhờ trong Xã

đội V P và con tôi Phan Huỳnh Quý A cũng ở trong đó.

Nay ông Phan Quốc V không có đủ khả năng nuôi con mà yêu cầu tôi phải

cấp dưỡng nuôi con chung thì tôi không đồng ý. Tôi yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, cho tôi được trực tiếp nuôi Phan Huỳnh Quý A, sinh ngày 25/5/2011, tôi không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Ngày 06/11/2020 cháu Phan Huỳnh Quý A có lời khai như sau: Cháu

đang học lớp 4 tại Trường tiểu học V P và cùng cha sinh sống tại Xã đội V P. Điều kiện sống của cháu rất tốt và cháu hoàn thành tốt chương trình học của trường, con muốn được sống với cha tên Phan Quốc V.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân thủ pháp

luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định tại các điều 70,71,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Giữa ông V và bà L được Tòa án nhân

dân huyện Tri Tôn giải quyết bằng bản án số 27/2019/HNGĐ-ST ngày 25/6/2019 theo đó ông V được quyền nuôi con, bà L không phải cấp dưỡng nuôi con do ông V không có yêu cầu. Căn cứ Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ khi ly hôn ông Phan Quốc V vẫn đảm bảo điều kiện nuôi con,

vẫn quan tâm đến việc học tập của con và cháu Phan Huỳnh Quý A có nguyện vọng được tiếp tục sống với ông V. Xét thấy để tạo điều kiện tốt

nhất cháu Quý A, không làm thay đổi cuộc sống của cháu nên tiếp tục

giao con chung cho ông V nuôi dưỡng, không chấp nhận yêu cầu thay

đổi người nuôi con của bà Huỳnh Hồng L.

Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu và không

cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả

tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Ông Phan Quốc V yêu cầu bà Huỳnh Hồng L cấp dưỡng nuôi con theo

quy định pháp luật. Bị đơn bà Huỳnh Hồng L có yêu cầu thay đổi người trực

tiếp nuôi con và có đơn phản tố ngày 15/8/2020 được Tòa án nhân dân huyện

Tri Tôn thụ lý yêu cầu phản tố là đúng quy định theo Điều 200 của Bộ luật tố

tụng dân sự nên xác định đây là “Tranh chấp về cấp dưỡng và yêu cầu thay đổi

người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Huỳnh Hồng L có hộ khẩu

thường trú tại Tổ 9 khóm An Hòa A, thị trấn B C, huyện Tri Tôn, tỉnh An

Giang. Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý, giải quyết là đúng với quy định

tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ

luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Theo yêu cầu khởi kiện của ông Phan Quốc V đang nuôi dưỡng

con chung là Phan Huỳnh Quý A, ông V yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi

con theo quy định pháp luật. Mặt khác, bà L trình bày có tổng thu nhập

trung bình khoảng 20.000.000 đồng/tháng có đủ khả năng tài chính để

nuôi con chung và yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con.

Xét thấy về điều kiện kinh tế của ông V và bà L thì cả hai đều có

thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Từ khi ly

hôn ông V là người nuôi con chung và yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con

điều này phù hợp với Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Cha,

mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Do đó hội

đồng xét xử thấy có đủ căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên

đơn.

Đối với yêu cầu thay đổi người nuôi con của bà Huỳnh Hồng L,

xét về điều kiện học học tập, sinh hoạt của cháu đang phát triển tốt thể

hiện qua biên bản xác minh tại Trường tiểu học và trung học cơ sở V P

“Cháu Phan Huỳnh Quý A đang học lớp 4 tại trường, cháu hoàn thành

tốt chương trình học, về hạnh kiểm cháu luôn chăm ngoan lễ phép với

thầy cô và mọi người, phụ huynh Phan Quốc V rất quan tâm đến việc học của cháu”, đồng thời ông Nguyễn Văn Mộng – xã đội trưởng V P cũng xác định như sau “Việc cháu Quý A và anh V ở tại cơ quan cũng được sự thống nhất của lãnh đạo địa phương, cơ quan dành riêng cho anh V và cháu Quý một phòng riêng đầy đủ tiện nghi”. Tòa án cũng tiến hành ghi nhận nguyện vọng của cháu Phan Huỳnh Quý A “Nay mẹ con là Huỳnh Hồng L, muốn con sống với mẹ, ý kiến của con ? – Con muốn được sống với cha là Phan Quốc V”. Từ những căn cứ nêu trên hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở không chấp nhận yêu cầu thay đổi người nuôi con của bị đơn.

Về án phí: ông Phan Quốc V không phải chịu án phí. Bà Huỳnh

Hồng L phải chịu 300.000 đống án phí cấp dưỡng nuôi con

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều

117, Điều 119 Luật hôn nhân gia đình 2014; khoản 5 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Huỳnh

Hồng L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Phan Huỳnh Quý A, sinh ngày 25/5/2011. Mức cấp dưỡng bằng một tháng của mức lương cơ sở (lương cơ sở hiện tại là 1.490.000 đồng), thời gian chấp dưỡng định kỳ hàng tháng kể từ ngày tuyên án 23/3/2021 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nuôi sống bản thân.

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Huỳnh Hồng L về việc thay đổi

người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về án phí cấp dưỡng: Bà Huỳnh Hồng L phải chịu 300.000 đồng tiền án

phí cấp dưỡng.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án,

đương sự có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2

luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự

nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,

7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại

Điều 30 luật thi hành dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ