- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn C: Trộm Cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Quyết định số 326/2006/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định về…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2018/HS-ST Ngày 01-02-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lường Thị Phẩm
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thanh Tú
2. Ông Triệu Quang Trân
- Thư ký phiên toà: Ông Bảo Thanh Toàn, là Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Hữu Học - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 02 năm 2018, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2017/HSST, ngày 08 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Hà Văn C, sinh năm 1992 tại xã NC, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn; Nơi cư trú: Thôn Bản Cầy, xã NC, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn CC và bà Hoàng Thị T; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/11/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Ông Hà Văn O, Sinh năm 1964; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Thôn Bản Cầy, xã NC, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người làm chứng: Ông Ngô Đình TH, sinh năm 1967; Trú tại: Thôn Bản Đén 1, xã Quảng Chu, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 25/10/2017, Hà Văn C lợi dụng lúc ông Hà Văn O là người cùng thôn không có nhà đã một mình đi bộ sang nhà ông Oanh. Khi đến nhà ông Oanh, quan sát không thấy có người đi lại nên C đã lén lút đến vị trí chuồng gà của nhà ông Oanh lấy trộm 01 chiếc cưa lốc và mang cất giấu tại bụi tre gần đó. Đến 04 giờ 30 phút, ngày 26/10/2017, C đến vị trí cất giấu chiếc cưa lốc trộm được, cho cưa lốc vào bao tải xách về nhà và dùng xe mô tô BKS: 20D1-04244 của bố C là ông Hà Văn CC để chở đến nhà ông Ngô Đình TH tại Bản Đén 1, xã Quảng Chu cất giấu. Tối ngày 25/10/2017, ông Oanh phát hiện bị trộm cắp chiếc cưa lốc nên đã báo Công an xã NC và Công an huyện CM. Ngày 27/10/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM đã tạm giữ chiếc cưa lốc trên tại nhà ông Ngô Đình TH để phục vụ cho quá trình điều tra. Ngày 07/11/2017 và ngày 08/11/2017 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM đã cho ông Hà Văn C nhận dạng và xác định chiếc cưa lốc mà C trộm cắp của ông Oanh là chiếc cưa lốc có vỏ bằng nhựa màu vàng, phần tay cầm bằng kim loại và có vỏ bọc nhựa màu đen, chiều dài lam là 70 cm, máy đã qua sử dụng.
Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hà Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Ngày 08/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản số 38 đối với chiếc cưa lốc mà ông Oanh bị mất trộm. Tại kết luận định giá tài sản số 35 ngày 09/11/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện CM kết luận: Giá trị chiếc cưa lốc tại thời điểm bị trộm cắp là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về Quyết định trưng cầu định giá tài sản và kết luận định giá tài sản.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 03 ngày 28/11/2017 trả lại chiếc cưa lốc cho chủ sở hữu là ông Hà Văn O. Ông Oanh đã nhận lại được tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường.
* Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng số 03/KSĐT-KT ngày 08/01/2018 truy tố bị cáo Hà Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:
- Hà Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017. Xử phạt: Bị cáo Hà Văn C từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (17/11/2017).
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Hà Văn C nói lời sau cùng có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CM, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Hà Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào 18 giờ ngày 25/10/2017, tại nhà ông Hà Văn O thuộc thôn Bản Cầy, xã NC, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, Hà Văn C đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc cưa lốc của ông Hà Văn O. Qua định giá chiếc cưa lốc có giá trị tại thời điểm bị trộm cắp là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.
Theo tinh thần của Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 thì hành vi của các bị cáo xảy ra trước khi Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực. Do đó cần xét xử bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009.
Xét Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, lười lao động nên đã có hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về vật chứng trong vụ án: Đối với chiếc cưa lốc do bị cáo trộm cắp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu Hà Văn O là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Hà Văn O đã nhận lại được tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có khả năng để thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trong vụ án này có ông Hà Văn CC (Bố của bị cáo C) là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô BKS: 20D1-04244, tuy nhiên ông Cương không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên để vận chuyển tài sản trộm cắp được. Đối với ông Ngô Đình TH là người cho bị cáo gửi chiếc cưa lốc nhưng không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra Công an huyện CM không xem xét xử lý đối với ông Cương và ông Thiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QuyÕt ®Þnh:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Hà Văn C 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (17/11/2017).
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hại. Báo cho biết bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện CM; - Công an huyện CM; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn thư. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lường Thị Phẩm |