vanban.org

Bản án 159/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 21/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Bá H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Phan Bá H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phan Bá H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội danh là 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Bá H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Bá H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2022/HS-ST
Ngày: 21 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Kim Tiến

2. Bà Lê Thị Xuân Đào

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diễm- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 150/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

1. Phan Bá H, sinh ngày 24/12/1997, nơi sinh: Long An;

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 247E/2 Khu vực 5, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh L; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Bá T, sinh năm 1975 (sống) và bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1979 (sống); Anh chị em ruột: có 01 người sinh năm 2001; Vợ con: Không có; Tiền sự: Không. Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 132/2020/HS-ST ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt Phan Bá H 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, Phan Bá H chấp hành hình phạt tù từ ngày 03/01/2021 đến ngày 28/12/2021 chấp hành xong bản án, đến nay chưa được xóa án tích. Bị cáo Phan Bá H bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bị cáo có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1986;

Địa chỉ: ấp B1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L. Có mặt

2. Bà Trần Thị B, sinh năm 1992.

Địa chỉ: ấp B1, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L. Vắng mặt

3. Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Khu vực 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh L. Có mặt.

Người làm chứng: Bùi Ái Q, Hồ Khánh L, Trần Thị N, Huỳnh Văn S. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 12/12/2021, Phan Bá H đi xe ôm đến khu vực gần chợ Cầu Xáng, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh để mua chất ma túy (dạng đá) về cất giấu để sử dụng. Khi đến nơi H gặp bạn tên Tài (không xác định nhân thân lại lịch) và nhờ Tài mua giúp 500.000 đồng chất ma túy (dạng đá) để sử dụng, Tài đồng ý, H đưa 500.000 đồng để Tài đi mua chất ma túy, Tài kêu H đứng đợi Tài. Khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, Tài quay lại đưa cho H 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có đựng 01 túi nylon rãnh khép viền xanh bên trong chứa chất ma túy (dạng đá). H lấy bao thuốc lá chứa túi nylon chứa chất ma túy cất giấu vào túi quần bên phải phía trước của H đang mặc trên người rồi thuê xe ôm chở đi về nhà tại khu vực 5, thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày 12/12/2021, H đi bộ đến nhà của Huỳnh Văn S, sinh năm 1986, hộ khẩu thường trú tại ấp Bình Hữu 1, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để chơi, khi đi H có mang theo túi nylon chứa chất ma túy cất giấu sẵn trong túi quần đang mặc trên người. Khoảng 10 phút sau, Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1987, hộ khẩu thường trú tại khu vực 4, thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cũng đến nhà của S để chơi. Khi gặp H và S, T hỏi ai có ma túy đá thì lấy ra sử dụng, S và H nghe T hỏi nhưng không ai trả lời gì. Lúc này, Trần Thị B (là vợ của S) từ nhà trên đi đến phòng của S ở phía sau nhà kêu S, H, T lên ăn cơm thì S và T đi lên ăn cơm cùng với B tại khu vực bếp nấu ăn ở nhà trên, riêng H ngồi lại trong phòng của S. Lúc này, H nhìn thấy dưới chân tủ bằng gỗ trong phòng của S có để bộ dụng cụ (bình nỏ) dùng sử dụng chất ma túy nên H cầm ra phía cửa sau nhà và lấy một phần chất ma túy cho vào bình nỏ, số ma túy còn lại H cất giấu vào trong túi quần của H đang mặc và cầm bình nỏ chứa chất ma túy đi vào phòng của S ngồi gần cửa ra vào sử dụng chất ma túy.

Trong lúc H đang sử dụng chất ma túy thì T và S ăn cơm xong từ nhà trên đi xuống vào phòng của S cả 02 người nhìn thấy H đang sử dụng chất ma túy. H hỏi S và T “Anh, em có ai sử dụng chất ma túy không”, T trả lời “Chơi thì chơi”. Lúc này, T đi lại gần chỗ của H ngồi đối diện H (bên phải H), S ngồi phía bên trái H, H đưa bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy cho T sử dụng, T cầm bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy hút 02 hơi thì đưa qua cho S, S cầm bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy hút 02 hơi thì hết chất ma túy. Sau khi sử dụng ma túy xong, T rủ H và S đi chơi game, H và S đồng ý. S điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, biển số 62K1- 3489 của S chở H và T đi đến tiệm internet tại ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì thấy tiệm internet đóng cửa nên cả 03 chở nhau đi về. Khi T, H, S đi về đến khu vực ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thì bị Công an phát hiện H đang cất giấu 01 túi nylon có rãnh khép viền xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ người và vật chúng để điều tra xử lý.

Vật chứng vụ án tạm giữ gồm: 01 túi nylon có rãnh khép viền xanh bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy và 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet (thu giữ của Phan Bá H); 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, biển số 62K1-3489,

số

khung:

RRKWSHIUMAXN46900,

số

máy: VTT29JL1P52SMLHC46900 (thu giữ của Huỳnh Văn S).

Qua điều tra xác định Phan Bá H, Huỳnh Văn S và Nguyễn Hòa T đều là người bị nghiện ma túy theo kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 13/12/2021 của Trạm Y tế xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đối với xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, biển số 62K1-3489. Qua điều tra không xác định được người đăng ký quyền sở hữu.

Tại Kết luận giám định số 1030/2021/KLGĐ ngày 20/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An, kết luận:

“Tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi nylon có rãnh khép viền xanh, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,6889 gam, loại Methamphetamine.

Kèm theo kết luận giám định: 01 bản ảnh giám định được lưu tại Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Long An. Hoàn lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật sau giám định có khối lượng 0,5737 gam được niêm phong”.

Tại bản cáo trạng số 148/CT-VKSĐH ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phan Bá H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Phan Bá H trình bày: Bị cáo hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố. Bị cáo thừa nhận bản thân là người nghiện ma túy do đó bị cáo có mang theo ma túy sẵn với mục đích để bản thân sử dụng. Sau khi đến nhà Huỳnh Văn S thì S và T ăn cơm trên nhà, bị cáo xuống dưới nhà sau thấy có bình nỏ của S nên bị cáo lấy ma túy mang trong người sử dụng. Sau đó S và T ăn cơm xong xuống nhà thấy bị cáo đang sử dụng ma túy nên S và T cùng sử dụng ma túy. Sau khi xử dụng xong các bị cáo đi chơi game nhưng tiệm game đóng cửa thì bị cáo cùng S, T (đi chung một xe) đến khuc vực ấp Bình Tiền 1, xã Đức Hòa Hạ thì bị lực lương chức năng kiểm tra bên trong bị cáo có tàng trữ ma túy như cáo trạng. Bị cáo thống nhất với bản Kết luận giám định số 1030/2021/KLGĐ ngày 20/12/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An, bị cáo không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Huỳnh Văn S trình bày: Trần Thị B là vợ của S, bản thân S là người nghiện ma túy nên có dụng cụ để sử dụng ma túy trong nhà. Khi H sử dụng ma túy S không biết cũng không có rủ rê H và T đến nhà để sử dụng ma túy, sau khi S, T ăn cơm xong và đi về phòng phía H, thấy H đang sử dụng ma túy thì T và S cùng đến sử dụng ma túy. Số ma túy sử dụng là do bị cáo H cung cấp, Huỳnh Văn S thống nhất với bản kết luận giám định số 1030/2021/KLGĐ ngày 20/12/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An vì số ma túy còn lại sau khi cả nhóm cùng sử dụng thì H giữ trong người đến khi bị bắt quả tang. Đối với xe mô tô 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, biển số 62K1-3489, S mua của người khác không rõ nhân thân lai lịch ông không có ý kiến đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Nguyễn Hoàng T trình bày: Bản thân T là người nghiện ma túy, khi đến nhà S chơi và ăn cơm cùng S. Khi đi xuống nhà dưới thấy bị cáo H sử dụng ma túy H nói có ai sử dụng ma túy không thì T nói “Chơi thì chơi” nên T có sử dụng ma túy tại nhà S. T xác định không có góp, hùn hay rủ rê ai sử dụng ma túy. Nguyễn Hoàng T thống nhất với bản kết luận giám định số 1030/2021/KLGĐ ngày 20/12/2021 vì số ma túy còn lại sau khi cả nhóm cùng sử dụng thì H giữ trong người đến khi bị bắt quả tang.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An trình bày lời luận tội, phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Phan Bá H gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Bá H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Bá H mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Bá H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Bá H mức hình phạt từ 08 năm tù đến 09 năm tù. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Phan Bá H chấp hành tổng hợp hình phạt chung cho hai tội.

Về tang vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật sau giám định có khối lượng 0,5737 gam được niêm phong, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET.

- Đối với một xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, biển số 62K1-3489, số khung: RRKWSHIUMAXN46900, số máy: VTT29JL1P52SMLHC46900 không có giấy tờ hợp pháp đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Bà Trần Thị B, người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử đối với bị cáo Phan Bá H nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

. Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Phan Bá H thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo Phan Bá H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 12 tháng 12 năm 2021, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Huỳnh Văn S và Nguyễn Hoàng T, người làm chứng cùng với Kết luận giám định số 1030/2021/KLGĐ ngày 20/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An và phù hợp với cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Lực lượng Công an tuần tra phát hiện Phan Bá H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng có khối lượng 0,6889 gam, loại Methamphetamine. Ngoài ra quá trình điều tra xác định: Khoảng 20 giờ cùng ngày 12/12/2021 tại căn phòng phía sau nhà của Huỳnh Văn S thuộc ấp Bình Hữu 1, xã Đức Hòa Thượng, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, bị cáo Phan Bá H thực hiện hành vi rủ rê Huỳnh Văn S và Nguyễn Hoàng T sử dụng chất ma túy và cung cấp chất ma túy cho S và T sử dụng. S, T đồng ý và cùng sử dụng chất ma túy với S. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phan Bá H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với khối lượng ma túy bị thu giữ và khám xét tại chỗ có khối lượng: 0,6889 gam, loại Methamphetamine tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249; ngoài ra bị cáo Phan Bá H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với hai người trở lên tội phạm (Nguyễn Hoàng T và Huỳnh Văn S sử dụng) hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tất cả ma túy thu giữ của bị cáo Phan Bá H trong vụ án đã được giám định kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số: 1030/2021/KLGĐ ngày 20/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An cũng như tại phiên tòa Phan Bá H, Huỳnh Văn S và Nguyễn Hoàng T thừa nhận.

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phan Bá H với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Hành vi của bị cáo Phan Bá H là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây thiệt hại lớn về kinh tế, gây tổn hại sức khỏe con người, làm suy thoái nòi giống, gây mất trật tự xã hội là mầm móng của nhiều tội phạm nguy hiểm khác.

Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hậu quả nghiêm trọng đối với xã hội của ma túy. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những nguyên nhân của nhiều tội phạm khác, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, bị nghiêm cấm vận chuyển, mua bán, tàng trữ và sử dụng ma túy trái phép dưới bất kỳ hình thức nào nhưng vì thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân cũng như cung cấp ma túy và rủ rê Nguyễn Hoàng T và Huỳnh Văn S sử dụng ma túy, bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự.

. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phan Bá H:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có một tiền án về tội “trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo có ý thức ăn năn hối cải, đặc biệt là lời khai của bị cáo về hành vi tổ chức sử dụng ma túy. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo.

Từ phân tích [2], [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo Phan Bá H là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa bị cáo Phan Bá H trình bày bản thân là người nghiện ma túy, nghề nghiệp thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo bị cáo Phan Bá H.

Đối với người tên Tài có hành vi mua chất ma túy giúp cho bị cáo Phan Bá H nhưng không xác định được nhân thân lai lịch chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo Phan Bá H do đó chưa đủ cơ sở để xử lý khi nào xác minh cụ thể sẽ giải quyết sau.

Đối với Huỳnh Văn S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bị cáo H và Nguyễn Hoàng T: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo H, S và T đều thống nhất trình bày công cụ phương tiện (bình nỏ) để sử dụng ma túy là tại nhà của S. Tại Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 06/2022/HSST-QĐ ngày 28/9/2022 Hội đồng xét xử thấy rằng, Huỳnh Văn S có hành vi chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng trái phép chất ma túy như địa điểm là nhà của S (bị cáo H sử dụng ma túy tại nhà S nhưng S không có ý kiến), phương tiện dụng cụ (bình nỏ) để cùng bị cáo H, T thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy cũng như xác định ý thức của S trong việc bị cáo H, T sử dụng ma túy tại nhà của S. Hội đồng xét xử nhận thấy có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm của Huỳnh Văn S trong tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” hoặc tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255, Điều 256 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần kiến nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của Huỳnh Văn S khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp nên không đề cập trong vụ án.

. Đối với Bà Trần Thị B (là vợ của Huỳnh Văn S) tại thời điểm H, S và T sử dụng ma túy thì Trần Thị B đang sinh sống tại nhà của S. Tại Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 06/2022/HSST-QĐ ngày 28/9/2022 Hội đồng xét xử đã trả để điều tra bổ sung làm rõ hành vi của Bà Trần Thị B nhưng theo biên bản xác minh ngày 01/11/2022 và ngày 09/11/2022, Trần Thị B bỏ địa phương từ tháng 01/2022 đi đâu không rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Hòa tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của bà B khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp nên không đề cập trong vụ án.

. Đối với Nguyễn Hoàng T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với H và S. Quá trình điều tra và tại phiên tòa T khai không rủ rê, không hùn hợp tiền để mua ma túy, không cung cấp chất ma túy cũng như công cụ phương tiện để cả nhóm sử dụng ma túy nên không đồng phạm với H, tại phiên tòa Nguyễn Hoàng T khai chưa bị cơ quan chức năng xử lý vi phạm hành chính. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan chức năng xử lý vi phạm hành chính đối với T theo quy định của pháp luật là phù hợp nên không đề cập trong vụ án.

. Về tang vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Đối với mẫu vật phẩm còn lại sau giám định có khối lượng 0,5737 gam được niêm phong có chứa chất ma túy và 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, biển số 62K1-3489, số khung: RRKWSHIUMAXN46900, số máy: VTT29JL1P52SMLHC46900 của Huỳnh Văn S mua của người không rõ nhân thân lai lịch chưa thực hiện chuyển nhượng quyền sở hữu còn giá trị sử dụng, Huỳnh Văn S không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 tháng 3 năm 2022.

. Về án phí: Bị cáo Phan Bá H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Bá H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phan Bá H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Phan Bá H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội danh là 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2021.

Áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Bá H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 Mẫu vật sau giám định có khối lượng 0,5737 gam được niêm phong có chứa chất ma túy, 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, biển số 62K1-3489, số khung: RRKWSHIUMAXN46900, số máy: VTT29JL1P52SMLHC46900 không có giấy tờ hợp pháp.

Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 7 năm 2022.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Bá H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Phan Bá H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông Huỳnh Văn S và ông Nguyễn Hoàng T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Trần Thị B vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ