- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng A - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 158/2024/HS-ST Ngày: 17-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Công
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Ngọc Cúc
Ông Huỳnh Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2024/TLST-HS ngày 28/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST-HS ngày 02/12/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng A, sinh năm 2001 tại Đồng Nai. Nơi cư trú: ấp F, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1978 và bà Liên Ngọc D, sinh năm 1980; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 (hai) anh em; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/4/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện V ra quyết định cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng. Ngày 25/4/2024 chấp hành xong.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 23/8/2024, sau đó chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện V.
(Bị cáo - có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 22/8/2024, Nguyễn Hoàng A cùng Nguyễn Thị Hồng A1, sinh năm 2001, ngụ tại ấp C, xã T, huyện V đến thuê và ở tại phòng số 08 nhà nghỉ V thuộc ấp V, xã T, huyện V. Sau đó Nguyễn Hoàng A sử dụng điện thoại di động Redmi 9C đăng nhập tài khoản messeger “Lum Tùm” nhắn tin đến tài khoản messeger của Võ Văn T, sinh năm 2000, ngụ ấp T, xã T, huyện V rủ T đến nhà nghỉ V cùng sử dụng ma túy, T đồng ý. Khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô Dream biển số 60S9-2470 đến nhà nghỉ V vào phòng số 01 do Hoàng A thuê trước đó, chờ Hoàng A mua ma túy quay về. Lúc này Hoàng A gọi điện thoại đến tài khoản zalo “Tý Quậy” gặp đối tượng tên T1 (không rõ họ, địa chỉ) hỏi mua ma túy và nỏ thủy tinh. T1 đồng ý và hẹn giao dịch tại khu vực N ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Hoàng A đón xe ôm đến điểm hẹn đưa T1 200.000 đồng nhận ma túy và nỏ thủy tinh mang về phòng số 01 nhà nghỉ V. Tại đây, Hoàng A lấy chai nhựa, ống hút, nỏ thủy tinh làm thành bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, rồi đổ toàn bộ số ma tuý vừa mua vào nỏ nung nóng, Hoàng A cùng T thay phiên nhau sử dụng. Sau đó Hoàng A mang bộ dụng sử dụng ma túy về phòng số 08, T nghỉ tại phòng số 01.
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 23/8/2024, Công an xã T nhận tin báo của ông Nguyễn Đình M (chủ nhà nghỉ V) về việc sử dụng ma túy tại nhà nghỉ. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra và lập biên bản sự việc, đồng thời thu giữ tang vật liên quan hành vi phạm tội như sau:
- Tại phòng số 08: 01 nỏ thuỷ tinh; 01 ống hút nhựa; 01 đoạn ống hút nhựa; 01 chai nhựa; thu giữ trên người Nguyễn Hoàng A 01 điện thoại di động hiệu Redmi 9C.
- Tại phòng số 01: thu giữ của T 01 điện thoại di động hiệu S1 Flip4.
- Tại sân nhà nghỉ: 01 xe mô tô Dream biển số 60S9-2470 (số máy FMG - 404151, số khung DP-04151).
Nguyễn Hoàng A được đưa về trụ sở Công an xã làm việc và A đầu thú khai nhận hành vi phạm tội như trên.
* Kết quả xét nghiệm chất ma túy xác định: Nguyễn Hoàng A, Võ Văn T đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine; Nguyễn Thị Hồng A1 âm tính với chất ma túy.
* Tại Kết luận giám định chất ma túy số 1687/KL-KTHS ngày 29/8/2024 của Giám định viên phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa và 01 đoạn ống hút được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng. H lại đối tượng sau giám định trong niêm phong số 1687/KL-KTHS.
- Kết quả xác minh xác định: xe mô tô Dream biển số 60S9-2470 do ông Trần Thế P - sinh năm 1975, ngụ ấp A, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai đứng tên chứng nhận đăng ký. Năm 2010, ông P bán lại cho người khác và không làm thủ tục sang tên. Sau đó Võ Văn T mua lại xe mô tô từ người không xác định được.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả Dream biển số 60S9-2470 và điện thoại di động S1 Flip4 cho Võ Văn T, vì không liên quan đến hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi đúng như nội dung Cáo trạng đã thể hiện, giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ: 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 1687/KL-KTHS. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Redmi 9C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
Tại phiên tòa lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Vào ngày 22/8/2024, tại nhà nghỉ V thuộc ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Nguyễn Hoàng A đã 01 (Một) lần tổ chức cho Võ Văn T và bị cáo sử dụng trái phép chất ma tuý.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 165/CT-VKSVC ngày 27/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu là có cơ sở đúng người và đúng tội.
[3]. Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền kiểm soát và quản lý độc quyền đối với các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện, hủy hoại sức khỏe, nhân cách của người trực tiếp sử dụng, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội, xử bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Về biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định trong niêm phong số 1687/KL-KTHS.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Redmi 9C
[6]. Về các nội dung khác có liên quan đến vụ án:
Đối với Võ Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã T đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp quy định.
Đối với tên T1 (không rõ thông tin nhân thân) bán ma túy cho Nguyễn Hoàng A, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.
[7] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A: 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đầu thú và bị tạm giữ là ngày 23 tháng 8 năm 2024.
2. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói giám định niêm phong số 1687/KL-KTHS ngày 29 tháng 8 năm 2024.
2.2. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Redmi 9C.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 11 năm 2024 giữa bên giao là Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V và bên nhận là Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu; - Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Công an huyện Vĩnh Cửu; - Uỷ ban nhân dân phường (xã) của bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Lưu.s | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huy Công |