- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hải - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 157/2017/HSST Ngày : 26/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Thành Lân
2/ Ông Đặng Văn Qúy
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Chi - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 175/2017/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN THỊ H; giới tính: nữ; sinh năm: 1966 tại Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số nhà 120/10 đườ ng T, phường 12, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: số nhà 120/10 đườ ng T, phường 12, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: giúp việc nhà; trình độ học vấn: 5/12; con ông: Nguyễn Văn T và bà: Hà Thị T; chồng: Nguyễn Trọng K; con: 03 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: ngày 28/5/2017.
(Có mặt tại phiên tòa)
Ngườ i bi ̣ hại: Bà Lục Thị Bích Đ, sinh năm 1960
Địa chỉ: số nhà 120/3 đườ ng T, phường 12, quận T, Thành phố Hồ Chi Minh.́
(Có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1988
Đi ̣a chỉ: 120/10 đườ ng T, phường 12, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có mặt tại phiên tòa).
2. Ông Dương Quốc H, sinh năm 1961
Địa chỉ: 339/47 đườ ng N, phường 12, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt tại phiên tòa).
NHẬN THẤY:
Bị cáo Nguyễn Thị H bị Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau: Ngày 27/5/2017, bà Lu ̣c Thi ̣ Bich Đ phá
́t hiê ̣n bi ̣ mất tiền, vàng nên đa trĩ nh bà
́o sự viê ̣c vớ i Công an. Qúa điều tra xác minh xác đi ̣nh được: Nguyễn Thị H giúp việc nhà cho bà Lục Thị Bích Đ tại nhà số 120/3 đườ ng T, Phường 12, quận T từ tháng 6/2016, làm việc từ 9 giờ đến 12 giờ các ngày thứ hai, thứ tư và thứ sáu hàng tuần. H có nhiệm vụ dọn dẹp nhà của bà Đ từ trên lầu xuống đất, do đó tất cả các phòng trong nhà H đều ra vào được vi các phòng chỉ đóng cửa, không khóa.̀
Vào khoảng 11 giờ 00 ngày 26/5/2017, bà Đ không có ở nhà, chỉ còn cô giúp việc nhà tên Hmet Bya đang chăm sóc mẹ bà Đ dưới tầng trệt. Trong lúc H dọn dẹp lau chùi phòng của bà Đ tại lầu 1 thi nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của bà Đ để có tiền trả nợ.̀ H đến tủ quần áo của bà Đ mở tủ lấy chìa khóa mà bà Đ giấu trên ngăn tủ phía trên, khi lấy được chìa khóa H dùng chìa khóa mở khóa hộc tủ nhỏ phía trên thi thấy có một cáì bóp màu đỏ sọc trắng, H mở bóp thi thấy bên trong có một cọc tiền mê ̣̀
nh giá 500.000 đồng được cột lại bằng dây thun, H rút bớ t một it cất vào túi quần đang mặc rố
̀i để số tiền còn lại vào vị trí cũ, khóa hộc tủ và đem chìa khóa bỏ lại vị trí cũ rồi đóng tủ lại. Sau khi lấy được tiền, H về nhà tại địa chỉ số nhà 120/10 đườ ng T, Phường 12, quận T đem ra đếm được 5.000.000 đồng (10 tờ mệnh giá 500.000 đồng). Số tiền này H cho con gái tên Nguyễn Thị Thanh H mượn 2.000.000 đồng để đóng tiền nhà trọ, cá nhân H tiêu xài hết 2.500.000 đồng, còn lại 01 tờ 500.000 đồng H cất vào túi vải màu hồng để trên bàn ở trên gác nhà H (đã thu hồi).
Ngoài ra H còn khai nhận vào khoảng 02 tháng trước, H vào phòng của bà Đ mở tủ quần áo của bà Đ rồi mở ho ̣c tủ nhỏ và phát hiện bên trong một túi vải nhỏ màu đỏ có đựng vàng và đa 6 lần lần lấy trô ̣̃
m vàng, gồm: Lần thứ nhất lấy 01 miếng vàng 05 chỉ vàng 9999; Lần thứ 2 lấy 1 miếng vàng 05 chỉ vàng 9999; lần thứ 3 lấy 01 miếng vàng 9999; lần thứ 4 lấy 01 miếng 01 lượng vàng 9999; lần thứ 5 lấy 01 miếng 2 chỉ vàng 9999, lần thứ 6 lấy 01 miếng vàng 02 chỉ vàng 9999 (tổng cô ̣ng 6 lần là 3,4 lượng vàng 24K loa ̣i 9999), mỗi lần lấy cách nhau 4-6 ngày, không nhớ rõ thời gian. Sau khi lấy trô ̣m được vàng cùa bà Đ, H mang đến tiệm vàng Kim Thành, địa chỉ số 40 đườ ng Hoàng Hoa Thám, Phường 12, quận Tân Bình bán 02 miếng vàng mỗi miếng 05 chỉ vàng 9999 với giá mỗi miếng 17.000.000 đồng và đến tiệm vàng Kim Thành, địa chỉ số 107 đườ ng Tân Kỳ Tân Quý, phương Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú bán 02 miếng vàng mỗi miếng 01 lượng vàng 9999 với giá mỗi miếng 35.000.000 đồng và 02 miếng vàng mỗi miếng 02 chỉ vàng 9999 với giá mỗi miếng 6.000.000 đồng. Tổng số tiền bán vàng là 116.000.000 đồng. Số tiền bán vàng H trả nợ cho những người H đã vay ngoài xã hội hết 76.000.000 đồng trong đó có trả cho Dương Quốc H số tiền 2.000.000đ (những ngườ i còn la ̣i không xác đi ̣nh được lai li ̣ch), sau khi trả nợ còn lại 40.000.000 đồng, H tiêu xài cá nhân hết.
Kết qủa đi ̣nh giá trong tố tu ̣ng hinh sự tổng giá tri ̣ tài sản Nguyễn Thi ̣ H chiếm
̀
đoa ̣t của bà Đào là 123.660.000 đồng.
Ta ̣i cơ quan điều tra, Nguyễn Thi ̣ H đa thữ ̀ a nhâ ̣n hành vi pha ̣m tô ̣i như đã nêu trên.
Đối vớ i chị Nguyễn Thị Thanh H (con gái Hải) khai nhận không biết số tiền 2.000.000 đồng, Nguyễn Thị H cho mượn là do phạm tội mà có, khi biết được sự viê ̣c H đã tự nguyên giao nộp lại, nên không có căn cứ xử lý Nguyễn Thi ̣ Thanh H về hành vi tiêu thu ̣ tài sản do ngườ i khác pha ̣m tô ̣i mà có.
Đối vớ i Dương Quốc H khai nhận không biết số tiền 2.000.000 đồng, ông Nguyễn Thị H trả nợ cho mình là do phạm tội mà có, khi biết được sự viê ̣c Dương Quốc H đã tự nguyên giao nộp lại, nên không có căn cứ xử lý Dương Quốc H về hành vi tiêu thu ̣ tài sản do ngườ i khác pha ̣m tô ̣i mà có.
Đối vớ i bà Phạm Thị Anh T, kinh doanh vàng tại địa chi số 40 đườ ng H, Phường 12, quận T, không thừa nhận đã mua 02 miếng vàng mỗi miếng 05 chỉ vàng 9999 từ Nguyễn Thị H. Qúa trình điều tra không chứ ng minh được hành vi tiêu thu ̣ tài sản do ngườ i khác pha ̣m tô ̣i mà có của Pha ̣m Thi ̣ Anh T nên không có cở sở để khở i tố điều tra.
Đối vớ i bà Nguyễn Phi P, kinh doanh vàng tại địa chỉ số 107 đườ ng T, phường T, quận T không thừa nhận đã mua 02 miếng vàng mỗi miếng 01 lượng vàng 9999 và 2 miếng vàng mỗi miếng 2 chi vả ̀ng 9999 từ H. Qúa trinh điều tra không chừ
́ ng minh được hành vi tiêu thu ̣ tài sản do ngườ i khác pha ̣m tô ̣i mà có của Nguyễn Phi P nên không có cở sở để khở i tố điều tra.
Tại bản cáo trạng số 135/CTr-VKS ngày 07 tháng 9 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa hôm nay, sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù, nhưng cho bi ̣ cáo hưở ng án treo, thờ i gian thử thách 5 năm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
XÉT THẤY:
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo tra ̣ng của Viện kiểm sát đã truy tố và khai:
Do bản thân nợ tiền củ a mô ̣t số đối tượng ngoài xa hô ̣̃ i không có tiền trả nên trong quá trinh đến phu ̣̀
giúp viê ̣c nhà cho gia đinh bà
̀ Đ, bi ̣ cáo phát hiê ̣n sự sơ hở của bà Đ trong viê ̣c cất giữ tiền nên đa nảy sinh ỹ
́ đi ̣nh chiếm đoa ̣t và bi ̣ cáo đa 7 lần trô ̣̃
m cắp tài sản của bà Đ, lấy được tổng cô ̣ng 3 lượng 4 chi vả ̀ng 24K loa ̣i 9999 và 5.000.000 đồng tiền mă ̣t, cu ̣ thể ngày 26/5/2017 lấy trô ̣m được 5.000.000 đồng; trướ c ngày 26/5/2017 khoảng 2 tháng (không nhớ chinh xá
́c ngày giờ ) cứ khoảng 4 đến 6 ngày bi ̣ cáo lấy trô ̣m vàng của bà Đ 1 lần và lấy tất cả 6 lần tổng cô ̣ng được 3 lượng 4 chi vả ̀ng 24K loa ̣i 9999. Số tài sản lấy trô ̣m sau khi đem bán bi ̣ cáo dù ng mô ̣t số trả nợ, mô ̣t số bi ̣ cáo sử du ̣ng tiêu xài cho cá nhân. Khi bi ̣ cáo đem bán tài sản, cho con bi ̣ cáo mượn 2000.000 đồng và trả nợ cho những ngườ i bi ̣ cáo mượn bi ̣ cáo không nói cho ho ̣ biết đó là tài sản do bi ̣ cáo trô ̣m cắp mà có. Bi ̣ cáo biết viê ̣c làm của bi ̣ cáo là vi pha ̣m pháp luâ ̣t nhưng do hoàn cảnh qú a khó khăn, không có tiền trả nợ nên bi ̣ cáo đa lã ̀m liều. Tuy nhiên kể từ ngày bi ̣ bắt đến nay bi ̣ cáo đa rất hỗ
́i hâ ̣n và ăn năn, mă ̣c dù hoàn cảnh khó khăn nhưng bi ̣ cáo đa tã ́c đô ̣ng nhờ gia đình, chồng, con, anh, em, cháu chắt của bi ̣ cáo hỗ trợ để bồi thườ ng la ̣i cho ngườ i bi ̣ ha ̣i và đến nay đa bỗ ̀i thườ ng xong cho ngườ i bi ̣ ha ̣i, ngườ i bi ̣ ha ̣i đa ̃ thông cảm và cũng làm đơn bai na ̣̃ i cho bi ̣ cáo. Vi vâ ̣̀ y bi ̣ cáo mong nhâ ̣n được sự khoan hồng của pháp luâ ̣t.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xét hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo, căn cứ kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, căn cứ các điều luật tương ứng do Bộ luật hình sự quy định. Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo Nguyễn Thị H đã pha ̣m vào tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 như cáo tra ̣ng Viê ̣n kiểm sát đa truy tỗ
́.
Hành vi pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo là nghiêm tro ̣ng, nguy hiểm cho xa hô ̣̃ i, đa xâm pha ̣̃
m tớ i quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luâ ̣t nhà nướ c bảo vê ̣, làm ảnh hưở ng xấu tớ i trâ ̣t tự tri ̣ an ta ̣i đi ̣a phương.
Bi ̣ cáo nhâ ̣n thứ c được hành vi trô ̣m cắp tài sản của người khác là vi pha ̣m pháp luâ ̣t, nhưng do tham lam, muốn thỏa man nhu cầu cũ
̉a cá nhân nên đa cỗ ́ ý phạm tội, bị cáo pha ̣m tô ̣i nhiều lần (07 lần) là tình tiết tăng nặng trách nhiệm qui định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Vì vậy cần xử bị cáo mức án phù hợp mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừ a chung.
Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra và phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bô ̣ thiê ̣t ha ̣i cho ngườ i bi ̣ ha ̣i; ngườ i bi ̣ ha ̣i đa lã ̀m đơn bai na ̣̃ i cho bi ̣ cáo. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, p khoản 1; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Xét thấy bi ̣ cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có đi ̣a chi cư trủ
́ rõ ràng, có đủ các điều kiê ̣n được hưở ng án treo theo quy đi ̣nh ta ̣i Nghi ̣ quyết 01/2013/ NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hô ̣i đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n đề nghi ̣ của Viê ̣n kiểm sát nhân dân quâ ̣n Tân Bình cho bi ̣ cáo được hưở ng án treo như Viê ̣n kiểm sát đề nghi ̣.
Về trách nhiê ̣m dân sự: Ta ̣i phiên tòa ngườ i bi ̣ ha ̣i cho biết đa đượ̃
c gia đinh bi ̣̀ cáo bồi thườ ng toàn bô ̣ thiê ̣t ha ̣i. Hiê ̣n nay không có yêu cầu, thắc mắc, khiếu na ̣i gì nên Hô ̣i đồng xét xử không có gi phà
̉i giải quyết.
Ngườ i có quyền lợi, nghia vu ̣̃
liên quan là ông Dương Quốc H vắng mă ̣t nhưng căn cứ vào hồ sơ vu ̣ án xét thấy số tiền 2000.000 đồng bi ̣ cáo trả nợ cho ông H, ông đa ̃ nô ̣p la ̣i cho cơ quan điều tra và hiê ̣n nay ông không có thắc mắc khiếu na ̣i gi nên Hô ̣̀
i đồng xét xử không có gi phà
̉i giải quyết .
Về vật chứng:
Đối vớ i 01 cái túi màu hồng, bên trong có một cuốn sổ kinh nhà thờ Tân Định H dùng để kẹp tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng thu củ a bi ̣ cáo. Xét thấy không có giá tri ̣ nên ti ̣ch thu tiêu hủ y
Đối với 10 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng do chị Nguyễn Thị Thanh H nộp lại; 04 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng do ông Dương Quốc Hnộp lại . Cơ quan điều tra đa xữ ̉ lý trả la ̣i cho ngườ i bi ̣ ha ̣i. Hiê ̣n không có ai thắc mắc khiếu na ̣i gi nên Hô ̣̀
i đồng xét xử không xét la ̣i.
Đối với 01 cái túi vải màu đỏ cam nhỏ, bên trong có một cái bóp màu xanh bà Đ dùng để cất vàng trong nhà; 01 cái bóp màu đỏ sọc trắng, bà Đ dùng để cất cọc tiền 100 tờ mệnh giá 500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho bị hại là bà Lục Thị Bích Đ. Hiê ̣n nay không có ai thắc mắc khiếu na ̣i gì nên Hô ̣i đồng xét xử không xét la ̣i.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trô ̣m cắp tài sản”.
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
Xử phạt: NGUYỄN THỊ H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trô ̣m cắp tài sản” nhưng cho bi ̣ cáo hưở ng án treo.
Thờ i gian thử thách là 05 (năm) năm tinh tứ
̀ ngày tuyên án.
Á p du ̣ng khoản 4 Điều 227 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự:
̀
Hô ̣i đồng xét xử tuyên bố trả tự do ngay cho bi ̣ cáo Nguyễn Thi ̣ H nếu bi ̣ cáo không bi ̣ ta ̣m giữ, ta ̣m giam về mô ̣t tô ̣i nào khác.
Giao bi ̣ cao cho Ủ y ban nhân dân phương 12, quâ ̣n Tân Binh, Thanh phố Hồ Chi
́
̀
̀
̀
́ Minh để giám sát và giáo du ̣c trong thờ i gian thử thách
Trườ ng hợp ngườ i được hưở ng án treo thay đổi nơi cư trú hoă ̣c nơi làm viê ̣c thi
̀ thực hiê ̣n theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 69 Luâ ̣t thi hành án Hinh sự̀
.
Áp dụng khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự̀
:
Ti ̣ch thu tiêu hủ y 01 cái túi màu hồng, bên trong có một cuốn sổ kinh nhà thờ Tân Định Hải (tinh tra ̣̀
ng theo phiếu nhâ ̣p kho vâ ̣t chứ ng của Công an quâ ̣n Tân Binh)̀
Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghi ̣ quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui đi ̣nh về mứ c thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử du ̣ng án phí và lê ̣ phi Tó ̀a án:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).
Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định tại điều 26 Luật Thi hành án (đã sửa đổi, bổ sung năm 2015).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ.
Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận : - Bị cáo; bị hại; NLQ; - Công an quận Tân Bình; - VKS QTB, VKS TPHCM ; - Chi cục THADS quận Tân Bình; - TAND TP Hồ Chí Minh; - Phòng PC27, Sở Tư pháp TPHCM; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đa kỹ ́ tên và đóng dấu) Nguyễn Văn Trí |