vanban.org

Bản án 156/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 05/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Phi O và đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2022/HSST
Ngày: 05-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Lê Phương Thảo.

Ông Nguyễn Văn Lân.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Dương Phước An - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 116/2022/HSST ngày 19 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:149/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2022, đối với bị cáo:

1.Trần Thị Phi O, sinh ngày 06/11/1982 tại tỉnh L. Nơi đăng ký NKTT: Thôn 5, xã Đ, huyện Đ, tỉnh L. Nơi tạm trú: Số 10 đường L, phường T, thành phố H, tỉnh T; nghề nghiệp: Nhân viên hợp đồng khu nghỉ dưỡng Century; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Kim L (chết) và bà Nguyễn Thị T (chết); Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Chung sống như vợ chồng với anh Nguyễn Thanh H (không đăng ký kết hôn); con: Có 1 con, sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, học đến lớp 5/12 thì nghỉ học, phụ giúp gia đình; sau đó ra Huế sinh sống và làm nhân viên hợp đồng khu nghỉ dưỡng Century cho đến ngày phạm tội.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/12/2021, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 28/12/2021 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Huế - có mặt.

2. Đoàn Trọng V (tên gọi khác: Lép), sinh ngày 28/9/2000 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện P, tỉnh T; Nghề nghiệp: Cơ khí; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Trọng T và bà Nguyễn Thị C; Gia đình có 05 anh chị em ruột, bị caó là con thứ ba trong gia đình; Vợ; Con: Chưa có; tiền án: Có 01 (một) tiền án. Ngày 25/5/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 (một) năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 29/2020/HSST); tiền sự: Không; nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, học đến lớp 08/12 ở nhà phụ giúp gia đình, không có nghề nghiệp ổn định.

Ngày 13/5/2019, bị Công an huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Đánh người gây thương tích” (QĐ số 2879/QĐ-XPVPHC) - Đã nộp tiền phạt.

Ngày 25/5/2020, bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 (một) năm tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. (Bản án số 29/2020/HSST). Ngày 28/11/2020, chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/02/2022 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố Huế - có mặt.

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1991. Nơi cứ trú: Thôn C, xã P, huyện P, tỉnh T - vắng mặt.

-Người làm chứng:

1- Anh Hoàng Như Minh T, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh T - vắng mặt.

2- Anh Đỗ Sĩ D, sinh năm 1974. Nơi cư trú: TDP A, phường T, thành phố H, tỉnh T- vắng mặt.

3- Anh Ngô Văn Đ, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Số 02 đường N, phường T, thành phố H, tỉnh T - vắng mặt.

4- Ông Hoàng Văn D, sinh năm 1967. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố H, tỉnh T.

5- Anh Đinh Hữu T, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn X, xã L, huyện P, tỉnh T- vắng mặt.

6- Anh Trần Hữu T, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện P, tỉnh T - vắng mặt.

7- Anh Ngô Văn H, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn A, xã L, huyện P, tỉnh T - vắng mặt.

8- Anh Trần Hữu H, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện P, tỉnh T - vắng mặt.

9- Chị Lê Thị Thùy L, sinh ngày 03/7/2005. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện P, tỉnh T - vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của Lê Thị Thùy L: Ông Lê Thanh T và bà Bùi Thị H. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện P, tỉnh T - vắng mặt.

10- Anh Ngô Hoài P, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện P, tỉnh T - vắng mặt.

11- Anh Nguyễn Nhật T, sinh năm 1999. Nơi cư trú: tổ 9, phường T, thị xã H, tỉnh T - vắng mặt.

12- Anh Lê Công Vĩnh P, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Số 23 đường T, phường T, thị xã H, tỉnh T - vắng mặt.

13- Anh Huỳnh Thế Bảo T, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Tổ 3, phường T, thị xã H, tỉnh T - vắng mặt.

14- Chị Bùi Thị Thảo N, sinh ngày 25/12/2005. Nơi cư trú: Số 14 đường T, phường T, thành phố H - vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của Bùi Thị Thảo N: Ông Bùi Văn L và bà Lê Thị Tố P. Nơi cư trú: Số 14 đường T, phường T, thành phố H - vắng mặt.

15- Chị Lê Thị Mỹ Q, sinh ngày: 16/4/2004. Nơi cư trú: số 140 đường L, phường K, thành phố H - vắng mặt.

16- Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Tổ 7, phường T, thị xã H, tỉnh T - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn có tiền về thăm quê nhân dịp Tết cổ truyền năm 2022, nên Trần Thị Phi O đã nảy sinh ý định tổ chức phục vụ cho khách thuê phòng để sử dụng ma tuý. Thực hiện ý định trên, khoảng 19 giờ 30 ngày 24/12/2021, O dùng điện thoại liên lạc với anh Ngô Văn Đ là quản lý của Chi nhánh Công ty Cổ phần điện tử tin học viễn thông tại Thừa Thiên Huế-Khu tổ hợp nghỉ dưỡng, dịch vụ du lịch Sun&Sea (gọi tắt là: khu Resort Sun&Sea) hỏi thuê 02 (hai) phòng để nghỉ lại. Do trong thời kỳ dịch bệnh Covid nên khu Resort Sun&Sea còn nhiều phòng trống, mặt khác O là nhân viên hợp đồng của Công ty nên anh Đ đồng ý cho O mượn phòng và nói O liên hệ với bảo vệ khu Resort Sun&Sea để lấy phòng.

Sau khi lấy được phòng số 2 và số 3 của khu Resort Sun&Sea, O thuê xe taxi của anh Đỗ Sĩ D để lên thành phố Huế mua sắm một số đồ dùng phục vụ khách sử dụng ma tuý gồm: dĩa sứ, dầu phật linh, nước ngọt, nước lọc, kẹo bánh, hoa quả… O đến tìm gặp chị Nguyễn Thị B thuê 02 (hai) loa âm thanh có nhãn hiệu JBL, 02 (hai) đèn màu có nhãn hiệu LASER LIGHT, 02 (hai) đèn màu hiệu WUYANG-WY7899 và 02 (hai) đèn màu có nhãn hiệu TING-TING, sau đó đưa về khu Resort Sun&Sea và nhờ Hoàng Như Minh T để trang bị trong phòng số 2 và số 3 phục vụ khách. Sau khi chuẩn bị xong, O đăng thông tin cho thuê phòng bay lên mạng xã hội Facebook để tìm kiếm khách có nhu cầu thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 23 cùng ngày, có 02 (hai) nhóm đối tượng liên lạc thuê phòng để sử dụng trái phép chất ma túy. O thỏa thuận cho thuê phòng với giá 4.000.000 đồng/01 phòng và hướng dẫn các đối tượng đi đến khu Resort Sun&Sea, sau đó thuê xe taxi của anh Đỗ Sĩ D chở các đối tượng vào phòng số 2 và số 3. Vào lúc 01 giờ 15 ngày 25/12/2021, khi các đối tượng đang sử dụng ma túy trong phòng số 2 và số 3 của khu Resort Sun&Sea thì bị lực lượng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Huế kiểm tra phát hiện và bắt quả tang, cụ thể:

Tại phòng số 2 có 07 (bảy) đối tượng gồm: Đoàn Trọng V; Ngô Văn H, Trần Hữu H, Đinh Hữu T, Trần Hữu T, Ngô Hoài P và Lê Thị Thùy L đang có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan công an đã bắt quả tang và thu giữ 01 (một) dĩa sứ màu trắng có chứa tinh thể rắn màu trắng dạng bột (đã thu gom vào 01(một) túi ni long màu trắng có viền màu đỏ bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng dạng bột được niêm phong trong phong bì giấy màu trắng và băng keo trong), 01 (một) thẻ nhựa màu xanh, 01 (một) ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng). Thu giữ tại phòng 01 (một) loa âm thanh có nhãn hiệu JBL, 01 (một) đèn màu có nhãn hiệu LASER LIGHT, 01 (một) đèn màu hiệu WUYANG-WY7899 và 01 (một) đèn màu có nhãn hiệu TING-TING.

Các đối tượng khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 24/12/2021, cả nhóm tổ chức ăn nhậu nhân dịp Lễ Giáng sinh (Noel) tại quán “Xì Trum” ở xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Khoảng 23 giờ cùng ngày, trong khi ăn nhậu, Ngô Văn H cùng nhóm bạn bàn bạc thống nhất mỗi người góp 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để mua ma túy sau đó thuê phòng để sử dụng. Sau đó có 01 (một) đối tượng tên H (không rõ nhân thân lai lịch) ngồi ở bàn nhậu bên cạnh nghe được nên gọi H sang trao đổi và liên lạc giúp nhóm của H mua ma tuý và thuê phòng tại khu Resort Sun&Sea. Sau khi thuê được phòng, cả nhóm đi taxi về khu Resort Sun&Sea đứng đợi. Sau đó, O thuê xe taxi của anh Đỗ Sĩ D chở cả nhóm vào phòng số 2 của khu Resort Sun&Sea và O trực tiếp thu tiền phòng 4.000.000 đồng. Vào lúc 01 giờ 15 phút ngày 25/12/2021, khi cả nhóm đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện bắt qua tang. Cơ quan Công an đã thu giữ trên dĩa sứ màu trắng số ma tuý còn lại mà các đối tượng sử dụng chưa hết.

Tại phòng số 03 có 06 (sáu) đối tượng gồm: Huỳnh Thế B, Nguyễn Đình Q, Nguyễn Nhật T, Lê Công Vĩnh P, Lê Thị Mỹ Q, Bùi Thị Thảo N đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan công an đã bắt quả tang và thu giữ 01 (một) dĩa sứ màu trắng và các đối tượng đã sử dụng hết ma túy. Thu giữ 01 (một) chiếc loa nhãn hiệu JBL, 01 (một) đèn Lasen Light; 01 (một) đèn WAYANG-WY7899, 01 (một) đèn Ting-Ting.

Các đối tượng khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 24/12/2021, cả nhóm tổ chức ăn nhậu nhân dịp Lễ Giáng sinh (Noel) tại quán “Cua Đỏ” ở đường Tố Hữu, phường Xuân Phú, thành phố Huế. Sau khi nhậu xong, khoảng 23 giờ 30 cùng ngày, cả nhóm bàn bạc thống nhất với nhau góp mỗi người 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để thuê phòng và mua ma tuý sử dụng. Qua mạng xã hội Facebook, cả nhóm biết có khu Resort Sun&Sea quảng cáo cho thuê phòng nên đã gọi taxi chở đi. Trước khi về thuê phòng cả nhóm đi qua đường Trần Huy Liệu để tìm mua ma tuý và đã gặp 01 (một) thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) đang đứng ở trên đường nên mua 01 (một) gói ma tuý dạng khay (1 chấm) và 03 (ba) viên ma tuý thuốc lắc với giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Sau khi mua được ma tuý, cả nhóm đi taxi về khu Resort Sun&Sea. Sau đó, O thuê xe taxi của anh Đỗ Sĩ D chở cả nhóm vào phòng số 3 của khu Resort Sun&Sea và O trực tiếp thu tiền phòng 4.000.000 đồng. Vào lúc 01 giờ 15 phút ngày 25/12/2021, khi cả nhóm đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện bắt qua tang.

Kết quả thử nhanh nước tiểu phát hiện các đối tượng phòng 2 và phòng 3 đều dương tính với ma túy.

Trong quá trình điều tra, Trần Thị Phi O và Đoàn Trọng V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A31, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 354565112229616, số IMEI 2: 354566112229614, màu xanh tím, có số điện thoại 0916.473.952.

- 02 (hai) loa âm thanh có nhãn hiệu JBL.

- 02 (hai) đèn màu có nhãn hiệu LASERLIGHT.

- 02 (hai) đèn màu hiệu WUYANG-WY7899.

- 02 (hai) đèn màu có nhãn hiệu TING-TING.

- 02 (hai) dĩa sứ màu trắng.

- 01 (một) thẻ nhựa màu xanh.

- 01 (một) ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng)

- 01(một) túi ni long màu trắng có viền màu đỏ bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng dạng bột được niêm phong trong phong bì giấy màu trắng và băng keo trong.

*Tại bản Kết luận giám định số 774/GĐ ngày 31/12/2021 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:

Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định (nêu tại mục 1, phần II) có khối lượng là 0,0670g (Không phẩy không sáu bảy không gam) là ma túy, loại Ketamine.

Kèm theo kết luận giám định: Biên bản giao, nhận Kết luận giám định.

Hoàn lại đối tượng giám định: Không hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế vì đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

* Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định, chị Nguyễn Thị B làm nghề cho thuê dụng cụ phục vụ việc tổ chức sự kiện. Việc O thuê loa đèn để sử dụng vào mục đích phạm tội nêu trên thì chị B không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế trả lại cho chị B: 02 (hai) loa âm thanh có nhãn hiệu JBL; 02 (hai) đèn màu có nhãn hiệu LASERLIGHT; 02 (hai) đèn màu hiệu WUYANG-WY7899; 02(hai) đèn màu có nhãn hiệu TING-TING.

Đối với: 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A31, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 354565112229616, số IMEI 2: 354566112229614, màu xanh tím, có số điện thoại 0916.473.952 của Trần Thị Phi O, 02 (hai) dĩa sứ màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa màu xanh, 01 (một) ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng). Ngày 20/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế đã chuyển các vật chứng trên cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 133/CT-VKS-HS ngày 18/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Trần Thị Phi O về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Bị cáo Đoàn Trọng V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Thị Phi O phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng tại điểm b, c khoản 2 điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị Phi O từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 25/12/2021.

- Tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đoàn Trọng V 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 28/02/2022.

+Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

-Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) dĩa sứ màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa màu xanh.

-Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng), 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A31, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 354565112229616, số IMEI 2: 354566112229614, màu xanh tím, có số điện thoại 0916.473.952 của Trần Thị Phi O.

+Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc ccs bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố Huế, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Vào lúc 01 giờ 15 phút ngày 25/12/2021, tại phòng số 2 và phòng số 3 của khu Resort Sun&Sea, địa chỉ số 02 đường Nguyễn Lữ, phường Thuận An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Thị Phi O có hành vi dùng địa điểm đã thuê từ trước, chuẩn bị dụng cụ (gồm: Loa, đèn, dĩa sứ, dầu phật linh, nước ngọt, nước lọc, kẹo bánh, hoa quả...) tổ chức cho 13 (mười ba) đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý, cụ thể: Tại phòng số 2 gồm 07 (bảy) đối tượng: Đoàn Trọng V, Ngô Văn H, Trần Hữu H, Đinh Hữu T, Trần Hữu T, Ngô Hoài P và Lê Thị Thùy L (sinh ngày 03/7/2005) và 06 (sáu) đối tượng tại phòng số 3 gồm: Huỳnh Thế Bảo T, Nguyễn Đình Q, Nguyễn Nhật T, Lê Công Vĩnh P, Lê Thị Mỹ Q (sinh ngày: 16/4/2004) và Bùi Thị Thảo N (sinh ngày 25/12/2005) thì bị lực lượng Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Huế kiểm tra phát hiện và bắt quả tang. Khối lượng ma tuý còn lại chưa kịp sử dụng hết ở trên dĩa sứ khi các đối tượng ở phòng số 2 đang sử dụng nhưng bị bắt quả tang, đã được giám định và kết luận là: 0,0670g (Không phẩy không sáu bảy không gam) là ma túy, loại Ketamine.

Trong các đối tượng tại phòng số 02, Đoàn Trọng V đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích nay tiếp tục tàng trữ trái phép 0,0670g (Không phẩy không sáu bảy không gam) ma túy, loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng.

Do đó, bị cáo Trần Thị Phi O đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 điều 255 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Đoàn Trọng V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng số 133/CT-VKS-HS ngày 18/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với các đối tượng Ngô Văn Hậu, Trần Hữu H, Đinh Hữu T, Trần Hữu T, Ngô Hoài P, Lê Thị Thùy L, Huỳnh Thế Bảo T, Nguyễn Đình Q, Nguyễn Nhật T, Lê Công Vĩnh P, Lê Thị Mỹ Q, Bùi Thị Thảo N đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý khi Công an bắt quả tang, nhưng không đủ khối lượng và thể tích quy định từ điểm a đến điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Công an thành phố Huế đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.

Đối với anh Trần Văn Đ là người cho O mượn phòng, anh Đỗ Sĩ D là người đưa đón khách theo hướng dẫn của O, anh Hoàng Như Minh T giúp O sắp xếp phòng nhưng không biết O tổ chức cho khách thuê phòng để sử dụng ma tuý nên không đồng phạm với O về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

[3] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phải nhận thức được ma túy là một chất rất độc hại, việc sử dụng các chất ma tuý trong phân tích kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học và điều tra tội phạm phải theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền. Hành vi của các bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến các chính sách của Nhà nước về thống nhất quản lý đặc biệt các chất ma tuý, xâm hại trực tiếp đến trật tự quản lý xã hội, chế độ quản lý đặc biệt này chỉ nhằm phục vụ cho hoạt động y tế, phân tích kiểm nghiệm và nghiên cứu khoa học. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý đều là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử lý nghiêm.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với các bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố xác định bị cáo O và V không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo O thật sự ăn năn hối cải nên cần xem xét cho bị cáo O được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ là bị cáo ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Đối với bị cáo Trần Thị Phi O tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt. Đối với bị cáo Đoàn Trọng V tàng trữ ma túy có trọng lượng ma túy nhỏ (0,0670g), nên khi quyết định hình phạt cần xem xét xử nhẹ hơn mức của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Xử lý vật chứng:

+ Đối với số ma túy sau khi giám định không hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế vì đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không có tang vật để xử lý.

+ Đối với 02 (hai) loa âm thanh có nhãn hiệu JBL, 02 (hai) đèn màu có nhãn hiệu LASERLIGHT, 02 (hai) đèn màu hiệu WUYANG-WY7899, 02(hai) đèn màu có nhãn hiệu TING-TING. Quá trình điều tra xác định, chị Nguyễn Thị B làm nghề cho thuê dụng cụ phục vụ việc tổ chức sự kiện. Việc O thuê loa đèn để sử dụng vào mục đích phạm tội nêu trên thì chị Bông không biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế trả lại cho chị Bông là phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Đối với: 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A31, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 354565112229616, số IMEI 2: 354566112229614, màu xanh tím, có số điện thoại 0916.473.952 của Trần Thị Phi O, 01 ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đồng. Các bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

+ Đối với 02 (hai) dĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xanh là các dụng cụ bị cáo chuẩn bị để cho các con nghiện sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/Tuyên bố bị cáo Trần Thị Phi O phạm tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Phi O 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 25/12/2021.

2/Tuyên bố bị cáo Đoàn Trọng V (tên gọi khác: Lép) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Trọng V (tên gọi khác: Lép) 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam là ngày 28/02/2022.

3/Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A31, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 354565112229616, số IMEI 2: 354566112229614, màu xanh tím, có số điện thoại 0916.473.952 và 01 ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đồng.

+ Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) dĩa sứ màu trắng và 01 thẻ nhựa màu xanh.

Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Huế và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế ngày 20/5/2022.

4/Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc các bị cáo Trần Thị Phi O và Đoàn Trọng V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5/Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ