- Tranh chấp gì? "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội:“ Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH Q B¶n ¸n sè: 153 /2017/HSST Ngµy 27/11/2017 |
NH¢N DANH
N¦íC CéNG HOµ X· HéI CHñ NGHÜA VIÖT NAM
TOµ ¸N NH¢N D¢N THµNH PHè M, TỈNH Q
Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö sơ thẩm gåm cã:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Nga. Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc và ông Nguyễn Văn Giang. Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa bà Phạm Thị Tuấn. Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố M. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M tham gia phiên tòa ông Ngô Mạnh Tú, Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 11 năm 2017 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố M xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 145/2017/HSST ngày 13 tháng 11 năm 2017, đối với bị cáo
Họ và tên: Nguyễn Văn H Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 05 tháng 10 năm 1988 tại thành phố M, tỉnh Q. Nơi ĐKHK và chỗ ở: Khu 4, phường B, thành phố M, tỉnh Q. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 6/12. Con ông: Nguyễn Văn T và bà Đỗ Thị H. Vợ, con: Chưa có. Tiền án + Ngày 17/7/2015 bị Toà án nhân dân thành phố M, tỉnh Q xử phạt 24 tháng tù giam về tội "Trộm cắp tài sản"; chấp hành xong ngày 8/01/2017 Tiền sự: chưa; Nhân thân: + Ngày 08/12/2005 bị Tòa án nhân dân thị xã M, tỉnh Q xử phạt 12 tháng tù giam, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội "Trộm cắp tài sản";
+ Ngày 28/01/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 24 tháng tù giam về tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng".
Bị cáo bị bắt ngày 30/8/2017. Hiện tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
NHẬNTHẤY
Bị cáo Nguyễn Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố M truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng cuối tháng 6 năm 2017, Nguyễn Văn H đến khu vực vòng xuyến đi phường T, thuộc Đại lộ H, thành phố M, tỉnh Q gặp và mua của người tên L 01 khẩu súng côn xoay cùng 05 viên đạn với giá ba triệu đồng. Sau khi mua được súng, H thường xuyên mang súng trong người mục đích để phòng thân. Đến khoảng 13 giờ ngày 29/8/2017, H cất giấu khẩu súng trên trong túi quần rồi đến phòng trọ của một người bạn tên C (không rõ lai lịch) ở thôn 9, xã H để chơi thì bị Tổ công tác của phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh Q phối hợp với Công an xã H kiểm tra hành chính, phát hiện thu giữ của H: 01 khẩu súng, dạng súng côn quay bằng kim loại màu trắng, báng súng bằng gỗ, không có số hiệu, trong ổ quay có 05 viên đạn, vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, đầu đạn bằng kim loại màu chì cùng 01 điện thoại Iphone 5 màu đen.
Tại Bản kết luận giám định số 46 ngày 31/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q kết luận: 01 khẩu súng gửi giám định là súng tự chế kiểu ổ quay bắn được đạn thể thao cỡ (5,6x15,5)mm, hiện tại khẩu súng còn sử dụng được nên có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng; 05 viên đạn gửi giám định là đạn thể thao cỡ (5,6x15,5)mm, còn sử dụng được, dùng cho súng thể thao, súng tự chế như: dạng bút, kiểu ổ quay.
Bản cáo trạng số: 155/KSĐT ngày 10/11/2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định khoản 1 Điều 230 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.
Người làm chứng anh Hoàng Minh L vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Chiều ngày 29/8/2017 tại thôn 9 xã H, thành phố M, anh được chứng kiến việc Công an kiểm tra hành chính và phát hiện trong người bị cáo H có 01 khẩu Súng, trong khẩu súng có 05 viên đạn phù hợp với lời khai của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX áp dụng: Khoản 1 Điều 230; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn H từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: áp dụng khoản 1,2 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu 01 khẩu súng, dạng súng côn quay bằng kim loại màu trắng, báng súng bằng gỗ, không có số hiệu và 03 viên đạn hoàn lại sau giám định, vỏ giao cho Ban chỉ huy quân sự thành phố M quản lý theo thẩm quyền. Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động đã thu giữ của bị cáo
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì và thừa nhận việc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan,
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng.
XÉT THẤY
Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với các lời khai của bị cáo ở cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng toàn bộ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận: Ngày 29/8/2017, tại khu phòng trọ thuộc thôn 9, xã H, thành phố M, tỉnh Q, Nguyễn Văn H có hành vi cất giấu trái phép trong
-2-
người 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay có tính năng tác dụng tương tự như súng quân dụng và 05 viên đạn thể thao mục đích để phòng thân thì bị phát hiện bắt giữ.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về vũ khí quân dụng. Bị cáo là người trưởng thành nhận thức được hành vi tàng trái phép vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật. Hơn nữa bản thân bị cáo cũng đã bị kết án về tội này nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Như vậy hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành của tội: "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng" quy định tại khoản 1 Điều 230 Bộ luật hình sự
Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Do vậy cần phạt bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn để bị cáo tu dưỡng rèn luyện trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên bị cáo bị áp dụng tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự
Về đối tượng tên Long đã bán súng cho H, trong quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng trong vụ án: 01khẩu súng, dạng súng côn quay bằng kim loại màu trắng, báng súng bằng gỗ, không có số hiệu, và 03 viên đạn hoàn lại sau giám định và vật cấm lưu hành nên tịch thu giao cho Ban chỉ huy quân sự thành phố M quản lý theo thẩm quyền. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I phone 5 thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội:“ Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 230; điểm p Khoản 1 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn H 24 ( hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2017
- Áp dụng: Khoản 1, 2 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu 01 khẩu súng, dạng súng côn quay bằng kim loại màu trắng, báng súng bằng gỗ, không có số hiệu, trong ổ quay có 03 viên đạn, vỏ đạn bằng kim loại màu
-3-
vàng, đầu đạn bằng kim loại màu chì , giao cho Ban chỉ huy quân sự thành phố M quản lý theo thẩm quyền
( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/10/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M với Ban chỉ huy quân sự thành phố M.)
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu I phone 5 màu đen
( theo biên bản giao nhận vật chứng số:34 /2018/THA ngày 24/11/2017 giữa Công an thành phố M và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M ).
Áp dụng: Khoản 1,2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Q; - VKSND thành phố M; - Công an; - Thi hành án; - Ban chỉ huy QSTP tp M; - Bị cáo; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ vụ án. -4- | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đã ký Trần Thi ̣ Thu Nga |