- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án tổ chức sử dụng ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hoàng Mạnh Cƣ, Vƣơng Khánh H, tên gọi khác: Chuột; Nguyễn Minh Nh, tên gọi khác: Phểu; Trần Văn H, tên gọi khác: Mao; Đặng Trần Nhật A tên gọi khác: Bé; phạm tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Bị cáo Vƣơng Khánh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất m…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 153/2021/HS-ST Ngày: 29-12-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đình Khương,
2. Ông Nguyễn Khương Duy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Lực-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2021/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Mạnh C, sinh năm1988, tại: Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố B, Phường 4, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Hoàng Thanh M, sinh năm: 1960; Nghề nghiệp: Hưu trí; Con bà: Võ Thị Thanh Th, sinh năm: 1964; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cả hai hiện trú tại: Khu phố b, Phường 4, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con đầu; Vợ: Mai Thị M, sinh năm 1988; Nghề nghiệp: Giáo viên; Con: Có 02 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019;
Tiền án; tiền sự: 0;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/6/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Vƣơng Khánh H, tên gọi khác: Chuột, sinh năm 1995, tại: Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố C, Phường 5, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Phụ xe; Con ông: Vương Khánh Th, sinh năm 1969; Nghề nghiệp: Lái xe; Con bà: Nguyễn Thị Ngh, sinh năm 1972; Nghề nghiệp: Buôn bán; Cả hai hiện trú tại: Khu phố C, Phường 5, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án; tiền sự: 0;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/6/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Minh Nh, tên gọi khác: Phểu, sinh năm 1998, tại: Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố T, Phường 1, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1974; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1975; Nghề nghiệp: Buôn bán; Cả hại hiện trú tại: Khu phố T, Phường 1, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: 01 tiền án: Ngày 22/11/2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 31/8/2020.
Tiền sự: 0;
Nhân thân: Ngày 16/9/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xử phạt 18 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành án tại Trại giam Đồng Sơn đến ngày 02/5/2016 chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/6/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Trần Văn H, tên gọi khác: Mao, sinh năm1999, tại: Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố B, Phường 4, thành phố Đô H, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Đức C, sinh năm 1967; Nghề nghiệp: Không; Con bà: Đào Thị Th, sinh năm 1965; Nghề nghiệp: Buôn bán; Cả hai hiện trú tại: Khu phố B, Phường 4, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ tư; Sống chung như vợ chồng với Đoàn Thị S, sinh năm 2001; Có 01 người con sinh năm 2020;
Tiền án, tiền sự: 0;
Nhân thân:
- Ngày 14/11/2014, bị Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” bằng hình thức cảnh cáo;
- Ngày 05/02/2015, bị Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” bằng hình thức cảnh cáo;
- Ngày 29/3/2017, bị Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” với mức phạt tiền 1.250.000 đồng;
- Ngày 19/9/2017, bị Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Hoạt động kinh doanh cầm đồ mà không có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh” với mức phạt tiền 5.000.000 đồng;
- Ngày 15/10/2018, bị Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” với mức phạt tiền 2.500.000 đồng;
- Ngày 20/01/2020, bị Công an thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác” và “Sử dụng công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép” với mức phạt tiền 5.500.000 đồng;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/6/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Đặng Trần Nhật A, tên gọi khác: Bé, sinh năm 1996, tại: Quảng Trị; Nơi đăng ký HKTT: Khu phố C, Phường 1, thành phố Đ Hà, tỉnh Quảng Trị; Chổ ở: Khu phố B, Phường 2, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Thợ trang điểm; Con ông: Đặng Đình H (đã chết); Con bà: Trần Thị Kim L, sinh năm 1966; Nghề nghiệp: Thợ may; Hiện trú tại: Khu phố C, Phường 1, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Nguyễn Chính T (Đã ly hôn); Có 01 người con sinh năm 2017;
Tiền án; Tiền sự: 0;
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/6/2021 tại Trại tạm giam Công an Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng:
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Hoàng Thanh M, sinh năm 1960, nơi cư trú: Khu phố B, Phường 4, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
+ Ông Vƣơng Khánh Th, sinh năm 1969, nơi cư trú: Khu phố C, Phường 5, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
+ Chị Trần Thị V, sinh năm 1994, nơi cư trú: Khu phố B, Phường 4, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
*Người làm chứng:
+Anh Hồ Thanh Ph, sinh năm 1988, nơi cư trú: Khu phố B, Phường 2, thành phố Đô H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1990, nơi cư trú: Khu phố B, Phường 2, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
+ Anh Đào Duy Kh, sinh năm 1998, nơi cư trú: Tiểu khu H, thị trấn AT, huyện T P, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
+ Chị Nguyễn Thị Thanh Nh, sinh năm 1998, nơi cư trú: Khu phố T, Phường 1, thành phố ĐH, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
+ Chị Trần Thị Khánh X, sinh ngày 20/7/2003, nơi cư trú: Khu phố T, Phường 1, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
+ Chị Võ Thị Kim D, sinh năm 1999; nơi cư trú: Khu phố C, Phường 1, thành phố Đô H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ ngày 26/6/2021, Hoàng Mạnh C ngồi nhậu cùng với Trần Văn H, Nguyễn Minh Nh và 02 người thợ sơn (không rõ lai lịch) tại quán Boss beer (thuộc Phường 1, thành phố Đ H). Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, C nói với H và Nh: “Đi chơi hè” thì cả hai đồng ý. C bảo H và Nh đi đến thuê phòng tại quán Karaoke Hoàng Tử (thuộc khu phố C, Phường 5, thành phố Đ H) để sử dụng ma túy, còn mình điều khiển xe ô tô hiệu KIA CERATO BKS 74A – 12.001 (thuộc sở hữu của bố Cường là ông Hoàng Thanh M) đến đống sỏi trước dãy trọ nơi C đang ở (tại khu phố N, Phường 3, thành phố Đ H), lấy ma túy do C nhặt được và cất giấu từ trước gồm: 01 túi ni long trong suốt, bên trong có chứa ma túy ketamine và 01 túi ni lon trong suốt, bên trong có chứa 03 mảnh ma túy MDMA cất giấu vào túi quần Jean phía sau bên phải rồi đi đến quán karaoke H T. Thấy quán đóng cửa nên C gọi điện thoại cho H bảo H tìm địa điểm khác để sử dụng ma túy. H gọi điện thoại cho Vương Khánh H để nhờ Huy thuê phòng tại quán karaoke D H. H đồng ý và nhờ bạn gái là Đặng Trần Nhật A gọi điện đặt phòng để cùng sử dụng ma túy. Nhật A đồng ý và gọi điện thoại cho chủ quán là anh Nguyễn Văn H để hỏi thuê phòng rồi tiếp tục gọi điện thoại cho người trực tiếp quản lý quán là anh Hồ Thanh Ph và anh Ph đồng ý cho thuê phòng.
Sau khi được Hu báo đã thuê được phòng, H đã gọi điện bảo C đến quán Karaoke D H còn Nh điện thoại rủ Trần Thị Thanh Nh đến karaoke D H để sử dụng ma túy, Nh đồng ý. Hoài chở Nh đến phòng trọ của H để đón H cùng Nhật A và Đào Duy Kh, cả nhóm đến quán karaoke D H.
Khoảng 15 phút sau Cường đến và đi vào quán thì thấy Nhật A đang ngồi ở ghế sopha trong quán, C và Nhật A cùng đi lên phòng. Khi đi đến cầu thang tầng 1 thì C nhớ là chưa khóa cửa xe ô tô nên lấy toàn bộ số ma túy đang cất giấu trong người đưa cho Nhật Anh để cầm lên phòng trước, còn Cường xuống khóa xe rồi lên phòng sau. Khi C vào phòng số 21 tầng 3 karaoke D H thì thấy trong phòng có H, Nh, H, Kh, Nh, Nhật A. C thấy số ma túy ketamine và ma túy MDMA của mình mang theo đang để trên bàn. C đi xuống phòng kho tầng 1 lấy 01 đĩa sứ màu trắng đưa lên phòng rồi lấy máy lửa đốt giấy hơ phần đáy đĩa cho nóng lên rồi đổ một nửa gói ma túy ketamine ra đĩa, số ma túy còn lại C để lại trên bàn. Sau đó, C mượn 01 thẻ nhựa PRUDENTIAL của Nh để chia ma túy thành từng đường thẳng rồi lấy một tờ tiền mệnh giá10.000 đồng đã được quấn tròn từ Nh để sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong thì C để ma túy ketamine mà C làm cất trên đĩa để tại bàn cho H, Nhật, H, Kh, Nh, Nhật A sử dụng, riêng Kh không sử dụng ma túy tại quán. Trong quá trình sử dụng ma túy thì H gọi điện cho 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch và địa chỉ) mua 03 viên ma túy MDMA với giá 1.000.000 đồng rồi mang vào phòng cho cả nhóm sử dụng. Sau đó C gọi điện cho Trần Thị Khánh X và Nh mượn điện thoại của Nh để gọi điện cho Võ Thị Kim D đến phòng số 21 karaoke D H để sử dụng ma túy. Sau đó Kh ra khỏi phòng đi xuống tiền sảnh tầng 1, còn lại 08 người bao gồm C, H, Nhật, H, Nhật A, Nhàn, X và D cùng sử dụng ma túy tại phòng. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/6/2021 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.
Vào lúc 03 giờ ngày 27/6/2021, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đông Hà tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vương Khánh H tại (khu phố B, Phường 2, thành phố Đ H). Quá trình khám xét đã thu giữ: 01 túi ny lông trong suốt có kích thước (13x80) cm bên trong có chứa nhiều chất rắn màu trắng dạng tinh thể; 02 túi ny lông trong suốt có cùng kích thước (4,3x4) cm bên trong có chứa nhiều chất rắn màu trắng dạng tinh thể; 01 túi ny lông trong suốt có kích thước (4,3x4) cm bên trong có chứa 05 viên nén màu xanh trên bề mặt mỗi viên có chữ UPS; 02 túi ny lông trong suốt có kích thước (13x7,6) cm bên trong có chứa nhiều chất rắn màu trắng, dạng tinh thể; 01 túi ni lông trong suốt có kích thước (13x7,6)cm bên trong có chứa 80 viên nén màu xanh, trên bề mặt mỗi viên có chữ UPS; 01 túi ny lông trong suốt có kích thước (13x7,6) cm bên trong có chứa 05 viên nén màu xanh, trên bề mặt mỗi viên có chữ UPS; 01 đoạn ống nhựa màu trắng có kẻ sọc màu xanh bên trong có chứa 05 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ WY.
Quá trình điều tra Vương Khánh H khai nhận: Vào khoảng 21 giờ ngày 25/6/2021, H đang ở phòng trọ thì có 01 nam thanh niên tên gọi là L (không rõ lai lịch, là bạn bè quen biết ngoài xã hội của H) gọi điện thoại nhờ H cất giấu ma túy giúp L và L hứa sẽ cho H ma túy để sử dụng, H đồng ý. Khoảng 20 phút sau, có một nam thanh niên (không rõ lai lịch) đến giao cho Huy 02 túi ny long trong suốt, bên trong có chứa nhiều loại ma túy. Trong đó, túi ny long thứ nhất chứa: 01 gói ny long chứa ma túy ketamine, 01 túi ny long chứa 05 viên ma túy MDMA và 01 đoạn ống nhựa màu trắng, có kẻ sọc màu xanh, bên trong có chứa 06 viên ma túy tổng hợp hồng phiến. Túi nylong thứ hai chứa: 02 túi ny long nhỏ, bên trong có chứa ma túy ketamine, 01 túi ny long chứa 80 viên ma túy MDMA. Sau khi nhận số ma túy trên, H cất giấu vào ngăn kéo dưới giường ngủ. Sau đó, H lấy từ túi thứ nhất ra một đoạn ống nhựa màu trắng, có kẻ sọc màu xanh, bên trong có chứa 06 viên ma túy tổng hợp hồng phiến rồi sử dụng hết 01 viên. Tất cả số ma túy còn lại H đang cất giấu thì bị thu giữ như đã nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số 722/KLGĐ-KTHS ngày 02/7/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Tìm thấy ma túy Ketamine trên bề mặt 02 mảnh sứ màu trắng thu giữ được tại phòng số 21 karaoke D H.
Tại bản kết luận giám định số 694/KLGĐ-KTHS ngày 29/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ tại phòng số 21 karaoke Duyên Hải có khối lượng 0,1505 gam là ma túy loại Ketamine.
Tại bản kết luận giám định số 695/KLGĐ-KTHS ngày 29/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:
+ 01 túi ni long trong suốt, trên miệng túi có kẻ sọc màu đỏ, có kích thước (13x8)cm, bên trong có chứa nhiều hạt rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ tại nhà trọ của Vương Khánh Huy có khối lượng 3,5115gam là ma túy loại Ketamine.
+ 02 túi ni long trong suốt, trên miệng túi có kẻ sọc màu đỏ, cùng có kích thước (4,3x4)cm, bên trong mỗi túi có chứa nhiều hạt rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ tại nhà trọ của Vương Khánh H có khối lượng 4,3052gam là ma túy loại Ketamine.
+ 01 túi ni long trong suốt, trên miệng túi có kẻ sọc màu đỏ, có kích thước (4,3x4)cm, bên trong có chứa 05 viên nén màu xanh, trên bề mặt mỗi viên có chữ UPS thu giữ tại nhà trọ của Vương Khánh H có khối lượng 1,6206gam là ma túy loại MDMA và ma túy loại Methamphetamine.
+ 02 túi ni long trong suốt, trên miệng túi có kẻ sọc màu đỏ, cùng có kích thước (13x7,6)cm, bên trong mỗi túi có chứa nhiều hạt rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ tại nhà trọ của Vương Khánh H có khối lượng 81,1894gam là ma túy loại Ketamine.
+ 01 túi ni long trong suốt, trên miệng túi có kẻ sọc màu đỏ, có kích thước (13x7,6)cm, bên trong có chứa 80 viên nén màu xanh, trên bề mặt mỗi viên có chữ UPS thu giữ tại nhà trọ của Vương Khánh H có khối lượng 26,3990gam là ma túy loại MDMA và ma túy loại Methamphetamine.
+ 01 đoạn ống nhựa màu trắng, có kẻ sọc màu xanh, được hàn kín một đầu, bên trong có chứa 05 viên nén hình tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY thu giữ tại nhà trọ của Vương Khánh H có khối lượng 0,4834gam là ma túy loại Methamphetamine. (Bút lục số: 110 - 123)
Tại bản cáo trạng số 148/CT-VKS- ĐH ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đã truy tố các bị cáo Hoàng Mạnh C, Vương Khánh H, Nguyễn Minh Nhật, Trần Văn H, Đặng Trần Nhật A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Vương Khánh H về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự. Xử phạt: Hoàng Mạnh C 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự. Xử phạt: Vƣơng Khánh H 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù về tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Vƣơng Khánh H 11 năm đến 11 năm 06 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với hai tội.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Minh Nh từ 07 năm 06 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Văn H 07 năm 03 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đặng Trần Nhật A 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu và tiêu hủy số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu PS2A 067360; PS3A 103286; PS3A 103287;
- Tịch thu và tiêu hủy 01 thẻ nhựa PRUDENTIAL mang tên Nguyễn Thị Thanh Nh.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng,
- Tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng, màn hình cảm ứng, số thuê bao: 0394345555 số IMEI 359403081283718.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro max, màu xám, màn hình cảm ứng, số thuê bao: 0967828965, số IMEI: 353887105781457.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro max, màu trắng, màn hình cảm ứng, số thuê bao: 0975957062, số IMEI: 353887102465971, đã qua sử dụng của Đặng Trần Nhật A dùng liên lạc sử dụng ma túy là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI: 356549108286978.
- Trả lại cho anh Hoàng Thanh M một xe ô tô hiệu KIA CERATO, màu trắng, biển kiểm soát: 74A-12001.
- Trả lại cho chị Trần Thị V một xe ô tô hiệu MAZDA 6, màu vàng, biển kiểm soát: 74A-08704, số máy: PE21167183, số khung: 47A6JC103186.
- Trả lại cho Trần Văn Hoài một điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, màu xanh, số thuê bao: 0795516165, số EMEI: 357677123202081.
- Trả lại cho ông Vương Khánh Th một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-Exciter, màu trắng, biển kiểm soát: 74L1-002.17.
- Trả lại cho Vương Khánh H:
+ Một đèn chiếu sáng hình hộp chữ nhật màu đen, trên thân đèn có chữ Laser show SYSTEM MP7979 V7, kích thước 25x18x10cm;
+ Một đèn chiếu sáng hình hộp màu trắng, một mặt có đèn chiếu sáng màu đen, kích thước (8x13x13) cm;
+ Một đèn chiếu sáng hình chữ nhật màu trắng, trên thân đèn có chữ Laser
radiation class 3B Laser product, kích thước 20x15x80cm;
+ Một đèn chiếu sáng hình hộp vuông màu đen, trên thân có chữ Laser light SYSTEM SR-1000RGB 6in1, kích thước 09x16x160 cm;
+ Một loa nghe nhạc hiệu Harman/Kardon, màu đen, kích thước: 30cm;
Bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo Hoàng Mạnh C: Trong những ngày bị tạm giam bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo không làm tròn trách nhiệm của một người con, người chồng, người cha, bị cáo xin lỗi gia đình về hành vi sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về làm lại bản thân.
Bị cáo Vương Khánh H: Trong thời gian bị tạm giam bị cáo suy nghĩ và nhận thức được hành vi sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Bị cáo Nguyễn Minh N: Bị cáo đã biết hành vi sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo sớm được trở về hòa nhập cộng đồng.
Bị cáo Trần Văn H: Những ngày bị tạm giam bị cáo rất hối hận, do còn ham chơi nên bị cáo phải chịu hậu quả này tuy nhiên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo sớm được trở về với gia đình.
Bị cáo Đặng Trần Nhật A: Bị cáo đã biết hành vi sai trái của mình, bị cáo xin lỗi bố mẹ, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Công an thành phố Đông Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng đã thể hiện đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/6/2021, Hoàng Mạnh C, Vương Khánh H, Nguyễn Minh Nh, Trần Văn H, Đặng Trần Nhật A đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với sự tham gia sử dụng của 8 người. Hành vi của Hoàng Mạnh C, Vương Khánh H, Nguyễn Minh Nh, Trần Văn H, Đặng Trần Nhật A đã cấu thành tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo tình tiết định khung quy tại điểm b khoản 2 (Đối với 02 người trở lên) Điều 255 Bộ luật Hình sự, điều luật quy định khung hình phạt tù tử 7 đến 15 năm.
Ngày 27/6/2021, Vương Khánh Huy có hành vi cấu dấu trái phép 0,4834gam ma túy loại Methamphetamine, 89,0061 gam ma túy loại Ketamine, 28,0196 gam ma túy loại MDMA và ma túy loại Methamphetamine.
Hành vi của Vương Khánh H đã cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo tình tiết định khung quy định tại điểm h khoản 3 (Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.” Điều 249 Bộ luật Hình sự, điều luật quy định khung hình phạt tù từ 10 đến 15 năm.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân và làm mất trật tự trị an trên địa bàn, do đó, cần xử phạt các bị cáo nghiêm khắc.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Minh Nh đang có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo C, Hoài, H và Nhật A không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo”quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về vai trò, mức độ thực hiện hành vi phạm tội:
Hoàng Mạnh C: Là người khởi xướng, thực hành tích cực, rủ H và Nh sử dụng ma túy, cung cấp ma túy, làm dụng cụ để cả nhóm sử dụng ma túy, gọi thêm Trần Thị Khánh X đến sử dụng ma túy.
Vương Khánh H: Nhờ Nhật A gọi tìm địa điểm sử dụng ma túy, cung cấp thêm ma túy MDMA để cho cả nhóm sử dụng.
Nguyễn Minh Nh: Sau khi tiếp nhận việc sử dụng ma túy từ Hoàng Mạnh Cường, Nhật đã rủ thêm Nguyễn Thị Thanh Nh và Trần Thị Khánh X đến sử dụng ma túy.
Trần Văn H: Sau khi được Nguyễn Mạnh C rủ và chỉ đạo đi thuê phòng để sử dụng ma túy, H gọi điện cho H nhờ thuê địa điểm, rủ Huy sử dụng ma túy, dùng xe ô tô chở H, Nhật A đi sử dụng ma túy.
Đặng Trần Nhật Anh: Gọi tìm thuê địa điểm sử dụng ma túy, giúp Cường mang ma túy vào phòng để sử dụng, tại phòng, Nhật Anh trực tiếp đưa ma túy cho Trần Thị Khánh X và Võ Thị Kim D sử dụng.
Xét nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy bị cáo Hoàng Mạnh C là người giữ vai trò cao nhất nên phải chịu mức hình phạt cao nhất, tiếp sau bị cáo Cường là các bị cáo Vương Khánh H, Nguyễn Minh Nh và sau cùng là các bị cáo Trần Văn H và Đặng Trần Nhật A chịu mức hình phạt ngang nhau.
Đối với Vương Khánh H: Tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiếp giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, với số lượng chất ma túy mà bị cáo tàng trữ đó chính là mối nguy hại lớn cho xã hội nên cần xử phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với hai tội.
Cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ tác dụng răn đe và giáo dục. Ban hành quyết tạm giam các bị cáo Hoàng Mạnh C, Vương Khánh H, Nguyễn Minh Nh, Trần Văn H, Đặng Trần Nhật A thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về vật chứng và tài sản tạm giữ:
+ Tịch thu tiêu hủy số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu PS2A 067360; PS3A 103286; PS3A 103287;
+ Một thẻ nhựa PRUDENTIAL mang tên Nguyễn Thị Thanh Nh, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy;
+ Một tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng, của Nh làm công cụ sử dụng ma túy nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
+ Một xe ô tô hiệu MAZDA 6, màu vàng, biển kiểm soát: 74A-08704, số máy: PE21167183, số khung: 47A6JC103186 của chị Trần Thị V cho H mượn, không phải là phương tiện tội nên trả lại cho chị V;
+ Một điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng, màn hình cảm ứng, số thuê bao: 0394345555 số IMEI 359403081283718, đã qua sử dụng, của H dùng liên lạc sử dụng ma túy là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước;
+ Một điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, màu xanh, số thuê bao: 0795516165, số EMEI: 357677123202081, của H không phải là phương tiện tội nên trả lại cho H.
+ Một điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro max, màu xám, màn hình cảm ứng, số thuê bao: 0967828965, số IMEI: 353887105781457, đã qua sử dụng, của Cường dùng liên lạc sử dụng ma túy là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước;
+ Một xe ô tô hiệu KIA CERATO, màu trắng, biển kiểm soát: 74A-12001, đã qua sử dụng, của anh Hoàng Thanh M cho C mượn không phải là phương tiện tội nên trả lại cho anh M;
+ Một điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro max, màu trắng, màn hình cảm ứng, số thuê bao: 0975957062, số IMEI: 353887102465971, đã qua sử dụng của Đặng Trần Nhật A dùng liên lạc sử dụng ma túy là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước;
+ Một điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI: 356549108286978 của Vương Khánh H dùng liên lạc sử dụng ma túy là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước;
+ Một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-Exciter, màu trắng, biển kiểm soát: 74L1-002.17 của ông Vương Khánh Th cho H mượn không phải là phương tiện tội nên trả lại cho ông Th;
Các vật dụng sau thu giữ tại nơi ở của Vương Khánh H không phải là phương tiện tội nên trả lại cho H gồm:
+ Một đèn chiếu sáng hình hộp chữ nhật màu đen, trên thân đèn có chữ Laser show SYSTEM MP7979 V7, kích thước 25x18x10cm;
+ Một đèn chiếu sáng hình hộp màu trắng, một mặt có đèn chiếu sáng màu đen, kích thước (8x13x13) cm;
+ Một đèn chiếu sáng hình chữ nhật màu trắng, trên thân đèn có chữ Laser
radiation class 3B Laser product, kích thước 20x15x80cm;
+ Một đèn chiếu sáng hình hộp vuông màu đen, trên thân có chữ Laser light SYSTEM SR-1000RGB 6in1, kích thước 09x16x160 cm;
+ Một loa nghe nhạc hiệu Harman/Kardon, màu đen, có tay cầm, kích thước: 30cm;
Quá trình điều tra không xác định được những người bán và gửi ma túy cho Huy nên không có cơ sở để xử lý. Nguyễn Thị Thanh Nh cho Hoàng Mạnh C mượn 01 thẻ nhựa PRUDENTIAL và cho Nguyễn Minh Nh mượn điện thoại nhưng Nh không việc C sử dụng thẻ để làm dụng cụ sử dụng ma túy và Nhật sử dụng điện thoại để gọi điện cho Võ Thị Kim D nên không xem xét trách nhiệm đối với Nh.
Đối với Nguyễn Thị Thanh Nh, Trần Thị Khánh X, Võ Thị Kim D cùng sử dụng ma túy với các bị cáo nhưng hành vi chưa đủ yêu tố cấu thành tội phạm nên cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Hoàng Mạnh Cƣ, Vƣơng Khánh H, tên gọi khác: Chuột; Nguyễn Minh Nh, tên gọi khác: Phểu; Trần Văn H, tên gọi khác: Mao; Đặng Trần Nhật A tên gọi khác: Bé; phạm tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Bị cáo Vƣơng Khánh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Hoàng Mạnh C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 29/6/2021.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Vƣơng Khánh H 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù về tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Vƣơng Khánh H 11 (mười một) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt đối với hai tội, buộc Vương Khánh H chấp hành hình phạt chung của hai tội là 18 (mười tám) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 29/6/2021.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Minh Nh 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 29/6/2021.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Trần Văn H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 29/6/2021.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Đặng Trần Nhật A 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 29/6/2021.
3. Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu và tiêu hủy số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì có ký hiệu PS2A 067360; PS3A 103286; PS3A 103287;
- Tịch thu và tiêu hủy 01 thẻ nhựa PRUDENTIAL mang tên Nguyễn Thị Thanh Nh.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 tờ tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng,
- Tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại di động hiệu Iphone X, màu trắng, màn hình cảm ứng, số thuê bao: 0394345555 số IMEI 359403081283718.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro max, màu xám, màn hình cảm ứng, số thuê bao: 0967828965, số IMEI: 353887105781457.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại di động hiệu Iphone 11 pro max, màu trắng, màn hình cảm ứng, số thuê bao: 0975957062, số IMEI: 353887102465971, đã qua sử dụng của Đặng Trần Nhật A dùng liên lạc sử dụng ma túy là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước một điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, màn hình cảm ứng, số IMEI: 356549108286978.
- Trả lại cho anh Hoàng Thanh M một xe ô tô hiệu KIA CERATO, màu trắng, biển kiểm soát: 74A-12001.
- Trả lại cho chị Trần Thị V một xe ô tô hiệu MAZDA 6, màu vàng, biển kiểm soát: 74A-08704, số máy: PE21167183, số khung: 47A6JC103186.
- Trả lại cho Trần Văn H một điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro max, màu xanh, số thuê bao: 0795516165, số EMEI: 357677123202081.
- Trả lại cho ông Vương Khánh Th một xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-Exciter, màu trắng, biển kiểm soát: 74L1-002.17.
- Trả lại cho Vương Khánh H:
+ Một đèn chiếu sáng hình hộp chữ nhật màu đen, trên thân đèn có chữ Laser show SYSTEM MP7979 V7, kích thước 25x18x10cm;
+ Một đèn chiếu sáng hình hộp màu trắng, một mặt có đèn chiếu sáng màu đen, kích thước (8x13x13) cm;
+ Một đèn chiếu sáng hình chữ nhật màu trắng, trên thân đèn có chữ Laser
radiation class 3B Laser product, kích thước 20x15x80cm;
+ Một đèn chiếu sáng hình hộp vuông màu đen, trên thân có chữ Laser light SYSTEM SR-1000RGB 6in1, kích thước 09x16x160 cm;
+ Một loa nghe nhạc hiệu Harman/Kardon, màu đen, kích thước:30cm;
Vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đông Hà theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/12/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đông Hà với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí, xử: Buộc các bị cáo Hoàng Mạnh C, Vương Khánh H, Nguyễn Minh Nh, Trần Văn H, Đặng Trần Nhật A mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - VKSND TP. Đông Hà; - Công an TP. Đông Hà; - CCTHADS TP. Đông Hà; - THA hình sự; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải Yến |