vanban.org

Bản án 153/2017/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 20/12/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/12/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn P. Giữ nguyên bản án hình S sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Đầm D.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn P 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2017. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn P. Giữ nguyên bản án hình S sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Đầm D.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình S; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật hình S
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2017/HSPT
Ngày 20 tháng 12 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Trần Trọng Hữu

Bà Hoàng Thị Hải Hà

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà:

Ông Bùi Vũ Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà:

Bà Lê Kiều D - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm vụ án hình S thụ lý số 169/2017/HSPT ngày 03 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo: Phạm Văn P thực hiện, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình S sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Đầm D,

Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Phạm Văn P, sinh năm 1979 (có mặt)

Tên gọi khác: Phạm Minh P, Phạm P.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp Bờ Đ, xã Trần P, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Con ông Phạm Văn L và bà Lê Thị B; Có vợ: Nguyễn Thị Đ, Dương Tú Y và 03 người con; Tiền S: không; Tiền án: Ngày 07/4/2016 bị Tòa án nhân nhân thành phố Cà M xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 20/12/2016; bị bắt theo lệnh truy nã và tạm giữ từ ngày 10/7/2017 đến ngày 12/7/2017 chuyển tạm giam cho đến nay.

Người bị hại:

Anh Trần Thanh S, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Chị Lâm Ngọc D, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Khóm 5, thị trấn Đầm D, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau.

NHẬN THẤY:

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm D và bản án hình S sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Đầm D, nội dung vụ án như sau:

Vào trưa ngày 31/01/2017, Phạm Văn P đi bộ từ nhà ông Tạ Văn Út, thuộc khóm 3, thị trấn Đầm Dơi về hướng Bệnh viện Đa khoa huyện Đầm D. Khi đi đến tiệm thuốc tây Ngọc D, P đi vào để mua thuốc uống nhưng phát hiện tiệm thuốc tây không có người trông coi nên P đã lén lút vào bên trong tiệm dùng tay trái mở khóa tủ lấy trộm cọc tiền là 3.598.000 đồng rồi bỏ đi.

Tại bản án hình S sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Đầm D quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn P phạm tội "Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình S;

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn P 01(Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10

tháng 7 năm 2017.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.

Ngày 10/10/2017, bị cáo P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo P giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã xét xử. Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình S. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn P, giữ nguyên bản án hình S sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Đầm D.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

XÉT THẤY:

Ngày 31 tháng 01 năm 2017, lợi dụng việc tiệm thuốc tây Ngọc D không có người trông coi, bị cáo Phạm Văn P đã lén lút vào bên trong tiệm dùng tay trái mở khóa tủ lấy trộm cọc tiền là 3.598.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân.

Do đó, án sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình S là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, Năm 2005, 2006 bị Toà án xét xử về tội trộm cắp tài sản. Đến năm 2015, bị cáo tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản và bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 01 năm tù. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, bị cáo chẳng những không sửa chửa lỗi lầm làm lại cuộc đời mà tiếp tục thực hiện tội phạm. Án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 01(Một) năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt là không được chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí hình S phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 của Bộ luật tố tụng hình S,

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn P. Giữ nguyên bản án hình S sơ thẩm số 23/2017/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Đầm D.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình S.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn P 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Thời hạn tù tính từ ngày 10 tháng 7 năm 2017.

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình S; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo P phải chịu án phí hình S phúc thẩm 200.000 đồng.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ