- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số:152/2017/HSST Ngày 21/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hồng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị An.
2. Bà Phạm Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 21 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành
phố Thái Binh , tỉnh Thái Bình , mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vu ̣ án
̀ hình sự thụ lý số 140/2017/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2017, quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số 153/2017/QĐXX - ST ngày 08 tháng 9 năm 2017, đối vớ i bi ̣ cáo:
Bùi Thị M (tên gọi khác: Bùi Bảo N), sinh ngày 07/9/1990. Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện H, tỉnh T. Chỗ ở: Số nhà 06, tổ 05, phường T, thành phố T, tỉnh T; Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: lớp 9/12; con ông Bùi Đăng Đ và bà Đinh Thị B; có chồng là Phạm Đức C; có 03 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh ngày 18/7/2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 48/2017/HSST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện đang chấp hành hình phạt tù bản án số 48/2017/HSST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T đã có hiệu lực pháp luật tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình từ ngày 18/8/2017.
(Trích xuất, có mặt)
Ngƣời bi ̣ ha ̣i:
Anh Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1975; trú tại ngách 12/227, đường L, tổ 05, phường T, thành phố T, tỉnh T.
(vắng mặt)
Ngƣời làm chứng:
- Cháu Nguyễn Thị Thu T - sinh ngày 01/11/2002 và cháu Nguyễn Thị Thu H - sinh ngày 01/11/2002. Cùng trú tại: ngách 12/227, đường L, tổ 05, phường T, thành phố T, tỉnh T.
(vắng mặt)
- Ông Nguyễn Việt H - sinh năm 1955. Trú tại: số nhà 03, ngõ 112, tổ 05, phường T, thành phố T, tỉnh T.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ Á N:
Qua các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và quá trình xét h ỏi, tranh luận ta ̣i phiên tòa, nô ̣i dung vu ̣ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 14/6/2017, Bùi Thị M sau khi đi làm về nhà trọ tại số nhà 06, tổ 05, phường T, thành phố T, trên đường về M đi qua cổng nhà anh Nguyễn Đức Đ tại ngách 12/227, đường L, tổ 05, phường T, thành phố T, tỉnh T thấy cổng và cửa nhà anh Đ khóa, không có ai ở nhà, quan sát xung quanh thấy vắng người qua lại nên M đã nẩy sinh ý định đột nhập vào nhà anh Đ để trộm cắp tài sản. M sử dụng 02 chùm chìa khóa (mỗi chùm 02 chìa) của nhà anh Đ mà M nhặt được ở vệ tường giáp với nhà trọ của M vào chiều ngày 12/6/2017 để mở khóa cổng và khóa cửa nhà anh Đ, M đi vào trong nhà. Khi vào trong gian buồng nhà anh Đ, M thấy có một tủ quần áo (loại tủ gỗ 02 cánh) không khóa, M mở cả hai cánh tủ ra lục tìm thấy ngăn trên tủ bên phải có 01 áo khoác nữ màu đen trong túi áo có một tập tiền mệnh giá 500.000 đồng và ngăn dưới có một quần đùi nam màu đen thêu chữ Adidas có 03 sọc kẻ màu xanh trong túi quần có 01 tập tiền gồm các tờ mệnh giá 20.000 đồng, 50.000 đồng, 100.000 đồng và 200.000 đồng. M đã lấy toàn bộ số tiền trên cất giấu vào trong túi quần bên trái đang mặc. M chưa kịp ra khỏi nhà thì cháu Nguyễn Thị Thu T và cháu Nguyễn Thị Thu H đều sinh năm 2002 là con của anh Đ đi về. Thấy vậy M chui vào trong nhà vệ sinh nhà anh Đ để trốn. Đến khoảng 11 giờ 45 phút thì cháu Nguyễn Thị Thu T phát hiện ra M đang trốn trong nhà vệ sinh, cháu T có hỏi: Tại sao cô lại vào nhà cháu, M không nói gì và đi nhanh về phòng trọ của mình. Khoảng 13 giờ cùng ngày, M thấy bên nhà anh Đ có nhiều người, nghĩ anh Đ phát hiện ra bị mất tiền nên M đã chủ động lấy điện thoại của mình có số thuê bao 01646.076.806 gọi điện đến số thuê bao 0967.900.27 của anh Đ trình bày toàn bộ hành vi trộm cắp tiền của mình, sau khi gọi điện thoại cho anh Đ xong M bỏ hai tập tiền vừa trộm được của anh Đ ra đếm được tổng cộng là 17.000.000 đồng. Sau đó M đã mang toàn bộ số tiền trên đến công an phường T, thành phố T đầu thú và tự nguyện giao nộp cho cơ quan công an số tiền trên cùng 02 chùm chìa khóa nhặt được của nhà anh Đ và 01 chiếc điện thoại di động của M.
Tổng số tiền M trộm cắp của nhà anh Nguyễn Đức Đ là 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng.
Bản cáo trạng số 149/KSĐT ngày 17 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh truy tố bi ̣ cáo Bùi Thị M về tô ̣i “Trô ̣m cắp tài
̀ sản” theo khoản 1 Điều 138 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự.
̀
Tại phiên tòa , đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh vẫn
̀ giữ nguyên quan điểm truy tố Bùi Thị M về tô ̣i Trô ̣m cắp tài sản.
Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh đề nghi ̣ Hô ̣i đồng
̀ xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g; p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt bị cáo mứ c án từ 09 đến 12 tháng tù về tô ̣i Trô ̣m cắp tài sản . Áp dụng Điều 51 bộ luật hình sự năm 1999, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án từ 15 đến 18 tháng tù, thờ i ha ̣n tù tính từ ngày bắt thi hành án 18/8/2017.
Về vật chứng vụ án: Ngày 23/6/2017 cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thái Bình ra quyết định xử lý vật chứng trả lại anh Nguyễn Đức Đ số tiền 17.000.000 đồng, 01 áo khoác vải màu đen, 01 quần đùi bằng vải màu đen thêu chữ Adidas có sọc kẻ xanh.
Đối với 02 chùm chìa khóa (mỗi chùm 02 chìa), 02 khóa Việt Tiệp của gia đình anh Đ, nhưng anh Đ không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động Nokia 1280 trong điện thoại có 01 sim Viettel số thuê bao 01646.076.806 quản lý của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội, đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo Bùi Thị M
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo đồng ý với tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát đề xuất, không có ý kiến gì.
Trướ c khi Hô ̣i đồng xét xử vào phòng nghi ̣ án, bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
̀
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ̉ :
Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án, căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃
c thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy như sau:
Về hành vi , quyết đi ̣nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố
Thái Bình, Điều tra viên, Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành phố Thái Binh, Kiểm sát
̀ viên trong quá trinh điều tra , truy tố đa thự̃
c hiê ̣n đúng về thẩm quyền , trình tự,
̀ thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa , bị cáo, ngườ i bi ̣ ha ̣i không ai có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng , ngườ i tiến hành tố tu ̣ng . Do đó , các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃
c hiê ̣n đều hợp pháp.
Lờ i khai của bi ̣ cáo ta ̣i phiên tòa hôm nay như đã khai trư ớc cơ quan điều tra phù hợp vớ i lờ i khai của người bị hại anh Nguyễn Đức Đ (BL số 21 - 26); người làm chứng, cháu Nguyễn Thị Thu T(BL 51-53), cháu Nguyễn Thị Thu H (BL số 54 - 55) và ông Nguyễn Việt H (BL số 56 - 57), được chứng minh bằng biên bản ta ̣m giữ đồ vâ ̣t , tài liệu (BL số 34 - 35); cùng các tài liệu , chứ ng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 14/6/2017, Bùi Thị M đã thực hiện hành vi mở khóa cổng, cửa vào nhà anh Nguyễn Đức Đ tại ngách 12/227, đường L, tổ 05, phường T, thành phố T, tỉnh T lén lút chiếm đoạt số tiền 17.000.000 đồng.
Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhâ ̣n thứ c và điều khiển hành vi của mình.
Hành vi của bi ̣ c áo đủ yếu tố cấu thành tô ̣i “Trô ̣m cắp tài sản” , không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên bị xét xử ở khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, quy định như sau:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. …”
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt với bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Song nhân thân bị cáo vừa bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T xử phạt 06 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để sữa chữa lỗi lầm mà tiếp tục phạm tội, thể hiện tính coi thường pháp luật của bị cáo.
Song xét thấy sau khi phạm tội bị phát hiện, bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú và tự nguyện nộp lại toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt trả lại cho người bị hại, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm g; p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Căn cứ tình chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử lên mức án tương xứng với hành vi phạm tội đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Đức Đ đã nhận lại toàn bộ số tiền 17.000.000đồng bị cáo đã chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thái Bình ra quyết định xử lý vật chứng trả lại anh Nguyễn Đức Đ số tiền 17.000.000 đồng, 01 áo khoác vải màu đen, 01 quần đùi bằng vải màu đen thêu chữ Adidas có sọc kẻ xanh vào ngày 23/6/2017.
Quá trình điều tra quản lý 02 chùm chìa khóa và 02 khóa Việt Tiệp của anh Nguyễn Đức Đ, nhưng anh Đ không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Trả lại bị cáo Bùi Thị M 01 điện thoại di động Nokia 1280 trong điện thoại có 01 sim Viettel số thuê bao 01646.076.806.
Về án phi : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
́ pháp luật.
Bị cáo, ngườ i bi ̣ ha ̣i có quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n luâ ̣t đi ̣nh.
Vì các lẽ trên,
́
QUYÊT ĐI ̣NH
1. Tuyên bố: Bị cáoBùi Thị M (tức Bùi Bảo N) phạm tội “Trộm cắ p tà i sản”.
2. Hình phạt: Áp dụng kho ản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1; khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự 1999.
Xử pha ̣t bi ̣ cáo Bùi Thị M (tức Bùi Bảo N) 09(chín) tháng tù. Áp dụng Điều 51 Bộ luật Hình sự 1999, tổng hợp với hình phạt 06(sáu) tháng tù của bản án số 48/2017/HSST ngày 30/6/2017của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh T, buộc bị cáo Bùi Thị M phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án 18/8/2017.
3. Về xƣ̉ lý vâ ̣t chƣ́ ng: Áp dụng Điều 41 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự, Điều 76 Bô ̣ luâ ̣t
̀ tố tu ̣ng hinh sự.
̀
- Tịch thu để tiêu hủy 02 chùm chìa khóa(mỗi chùm 02 chìa), 02 khóa móc treoViệt Tiệp màu trắng bạc .
- Trả lại bị cáo Bùi Thị M 01điện thoại di động Nokia 1280. Nhưng quản lý để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng và tài sản có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 18/8/2017)
- Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thái Bình ra quyết định xử lý vật chứng trả lại anh Nguyễn Đức Đ số tiền 17.000.000 đồng, 01 áo khoác vải màu đen, 01 quần đùi bằng vải màu đen thêu chữ Adidas có sọc kẻ xanh vào ngày 23/6/2017.
4. Về á n phí : Áp dụng Điều 99 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự ; Nghị quyết số
̀ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buô ̣c bi ̣ cáo Bùi Thị M phải nộp 200.000 đồng án phi hinh sự sơ thẩm.
́ ̀
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có m ặt được quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/9/2017. Người bị hại vắng mă ̣t có quyền kháng cáo trong thờ i ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
̀
̉ Nơi nhâ ̣n:
| - Ngườ i tham gia tố tụng; - VKSND TP. Thái Bình; - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - Sở Tư phá p tỉnh Thá i Bình; - Chi cục THADS TP.Thái Bình; - Công an thà nh phố Thá i Bình; - Lưu hồ sơ vụ á n. | T/M HỘI ĐÔNG XÉ T XƢ̉ SƠ THÂM Thẩm phan - Chủ tọa phiên tòa ́ (Đã ký) Trần Hồng Sơn |