vanban.org

Bản án 150/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - Võ Minh C - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự Xử phạt

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12
THÀNH PHÓ HỎ CHÍ MINH
Bản án số: 150/2025/HS-ST

Ngày: 19 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỌNG HOÀ XÃ HỌI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHÓ HỎ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thâm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Tốt

Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thuý – Thư ký Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Hiếu – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 156/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 558/2025/QĐXXST-HS ngày 29/4/2025 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 558a/TB-TAQ12 ngày 12/5/2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Văn Đ) – sinh năm: 1968 tại tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã H (nay là xã H), huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi cư trú: Số A, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị D; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1974 và có 02 con, sinh năm: 1995 và sinh năm 1999

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 26/02/2021 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng do có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (kể từ ngày 26/02/2021 đến ngày 26/5/2021). Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 06/11/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.

1

2. Võ Minh C – sinh năm: 1980 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký thường trú: Số I, ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số A, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghềnghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Minh D1 (đã chết) và bà Trần Thị P; Vợ: Phan Thị Kim T1 (đã chết) và có 02 con, sinh năm 1997 và sinh năm 1999.

Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 06/11/2024 đến nay; có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 ngày 04/11/2024, Nguyễn Văn H đang ở nhà tại địa chỉ số A, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì Võ Minh C đến chơi. Tại đây, H rủ C mua ma tuý về cùng nhau sử dụng thì C đồng ý, C đưa cho H 230.000đồng để mua ma tuý, H điều khiển xe mô tô biển số 59D2-35726 chạy đi mua ma tuý của một người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 200.000đồng tại bãi đất trống thuộc ấp Đ, xã bà Đ1, huyện H. Sau khi mua được ma tuý H quay về nhà trả lại C 30.000đồng tiền thừa. Lúc này, C và H ngồi ở ghế tại phòng khách, H lấy 01 bình thuỷ tinh gắn ống hút và ống thuỷ tinh đặt lên bàn giữa phòng khách, rồi dùng tay phải lấy gói nylon chứa ma tuý từ túi áo trước ngực trái cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý, dùng bật lửa khò lửa vào ống thuỷ tinh chứa chất ma tuý, H và C hút lần lượt mỗi người hai hơi đến khi hết ma tuý trong ống thuỷ tinh thì ngồi nghỉ. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an phường T, Quận A kiểm tra hành chính nhà của H thì phát hiện thu giữ trên nền gạch tại vị trí H và C đang ngồi có 01 bình thuỷ tỉnh gắn ống hút và ống thuỷ tỉnh, 01 quẹt ga; H và C khai đây là công cụ cả hai sử dụng ma tuý nên Tổ công tác tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc, đưa H và C cùng vật chứng về trụ sở Công an phường T, Quận A để lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q xử lý.

Vật chứng của vụ án:

+ 01 gói được niêm phong vụ số 4094/24; 01 cái bật lửa.

+ 01 tờ tiển Ngân hàng V mệnh giá 10.000đồng và 01 tờ tiền Ngân hàng V mệnh giá 20.000đồng.

+ 01 xe mô tô, số loại Taurus, nhãn hiệu YAMAHA, biển số 59D2-357.26, số máy 16S2138360, số khung RLCS16S20AY138363.

- Đồ vật thu giữ:

+ 01 áo dài tay màu xanh, 01 quần dài màu xanh của Nguyễn Văn H.

+ 01 áo thun trắng ngắn tay, 01 cái quần ngắn màu đen của Võ Minh C.

* Tại Kết luận giám định số 13206/KL-KTHS ngày 13/11/2024 của Phòng K - Công an Thành phố H đã kết luận: “01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu

2

vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Nguyễn Văn H và hình dấu Công An phường T, Quận A bên trong có 01 bình thuỷ tỉnh có gắn 01 ống nhựa và 01 ống thuỷ tỉnh dính chất ma tuý, không xác định được khổi lượng, tìm thấy Methamphetamine ở dạng vết" (BL 115).

Kết quả xét nghiệm ma tuý tại thời điểm kiểm tra thể hiện Nguyễn Văn H và Võ Minh C đều dương tính với chất ma tuý, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Văn H, Võ Minh C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Tuy nhiên, tại phiên toà bị cáo Võ Minh C khai khi đưa tiền cho bị cáo H, bị cáo C không biết bị cáo H sử dụng số tiền này để mua ma tuý.

Tại Cáo trạng số 149/CT-VKSQ12 ngày 21 tháng 4 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tổ các bị cáo Nguyễn Văn H và Võ Minh C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo Nguyễn Văn H, khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Võ Minh C; các điều 17, 38 và 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn H, Võ Minh C mỗi bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù đều về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói được niêm phong vụ số 4094/24; 01 cái bật lửa.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiển 30.000đồng.

+ Tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của chiếc môtô biển số 59D2-357.26. Hết thời hạn đăng báo, nếu không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp chiếc xe mô tô nói trên thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.

+ Tịch thu tiêu huỷ đồ vật tạm giữ: 01 áo dài tay màu xanh, 01 quần dài màu xanh của Nguyễn Văn H; 01 áo thun trắng ngắn tay, 01 cái quần ngắn màu đen của Võ Minh C.

Các bị cáo không tranh luận. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tổ tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tổ tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Mặc dù tại phiên toà bị cáo Võ Minh C khai nhận, khi đưa tiền cho bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Võ Minh C không biết bị cáo Nguyễn Văn H sẽ sử dụng số tiền do C đưa để mua ma tuý nhưng căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H tại Cơ quan điều tra, tại phiên toà và chính lời khai của bị cáo Võ Minh C tại Cơ quan điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/11/2024, tại nhà của bị cáo Nguyễn Văn H ở địa chỉ số A, khu phố A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, các bị cáo Nguyễn Văn H và Võ Minh C đã có hành vi cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý.

Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý, hành vi đưa trái phép chất ma tuý vào cơ thể người khác của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trải phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng vì ma tuý có tác hại rất lớn đến sức khoẻ, trí lực của con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý mà còn xâm hại trực tiếp đến trật tự trị an xã hội nên cần xử phạt các bị cáo thật nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Võ Minh C không thừa nhận việc bị cáo đưa tiền cho bị cáo H đi mua ma tuý nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo phạm tội lần đầu nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trach nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

[5] Về phân hoá vai trò và hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Văn H là người khởi xướng, là người trực tiếp đi mua ma tuý, cũng là người chuẩn bị dụng cụ và sử dụng địa điểm do mình quản lý để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên có vai trò cao hơn bị cáo Võ Minh C. Bị cáo Võ Minh C là người đưa tiển cho bị cáo Nguyễn Văn H đi mua ma tuý để cùng sử dụng chung nên có vai trò thấp hơn bị cáo H. Xét thấy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo H có vai trò cao

4

hơn và có nhân thân xấu hơn nên cần xử phạt bị cáo H cao hơn bị cáo C mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiển, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hoàn cảnh gia đình của các bị cáo nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng, xử lý vật chứng và đồ vật tạm giữ:

- Đối với 01 gói được niêm phong vụ số 4094/24; 01 cái bật lửa là công cụ dùng vào việc phạm tội, có giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với số tiền 30.000đồng là tiền bị cáo C đưa bị cáo H đi mua ma tuý còn thừa nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 xe môtô, số loại Taurus, nhãn hiệu YAMAHA, biển số 59D2-357.26, số máy 16S2138360, số khung RLCS16S20AY138363. Qua xác minh, chủ xe mô tô là ông NguyễnVăn H1 đứng tên đã bán xe trên vào năm 2018 nhưng không lập hợp đồng mua bán. Bị cáo C khai đã mua xe mô tô trên từ tiệm ve chai thuộc huyện H (không nhớ địa chỉ) và không làm hợp đồng mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H đã tiến hành đăng tin tìm chủ sở hữu xe mô tô nhưng chưa có kết quả. Vì vậy, cần giao Cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe môtô nói trên. Sau thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 áo dài tay màu xanh, 01 quần dài màu xanh của Nguyễn Văn H và 01 áo thun trắng ngắn tay, 01 cái quần ngắn màu đen của Võ Minh C; không có giá trị và các bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.

[8] Đối với các vấn đề khác: Đối với người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) là người bán ma tuý cho bị cáo H, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

[9] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Võ Minh C phải chịu án phí hình sự sơ thầm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYÉT ĐỊNH:

- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H và Võ Minh C phạm tội “Tổ chức sử dụng trải phép chất ma tuý".

- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38 và 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác Nguyễn Văn Đ) 03 (ba) năm tù về tội “Tố chức sử dụng trái phép chất ma tuy”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 06/11/2024.

5

- Căn cứ khoản 1 Điều 255; khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38 và 58 Bộ luật Hình sự

Xử phạt: Bị cáo Võ Minh C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 06/11/2024.

- Về xứ lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 gói được niêm phong vụ số 4094/24; 01 cái bật lửa; 01 áo dài tay màu xanh; 01 quần dài màu xanh; 01 áo thun trắng ngắn tay và 01 quần ngắn màu đen.

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 30.000đồng (Ba mươi ngàn đồng).

+ Giao Cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với 01 xe mộtô, số loại Taurus, nhãn hiệu YAMAHA, biển số 59D2-357.26, số máy 16S2138360, số khung RLCS16S20AY138363. Sau thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung công quỹ nhà nước.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 121/QĐ-VKS ngày 21/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Võ Minh C mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ