vanban.org

Bản án 150/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Long An Tuyên án 15/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Thành D Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN N DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2022/HS-PT
Ngày: 15-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm

Các Thẩm phán:

Bà Huỳnh Thị Phượng

Ông Trần Trọng N

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án N dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 104/2022/TLPT-HS ngày 16 tháng 6 năm 2022, do có kháng cáo của bị cáo Cao Thành D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 144/2021/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Bị cáo có kháng cáo: Cao Thành D (R) sinh năm 1981 tại Long An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T.H 1, xã H.K.N, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn M, sinh năm 1955 và bà Đoàn Thị R, sinh năm 1956; vợ Huỳnh Thị Tuyết Nh, sinh năm 1986 và có 02 người con sinh năm 2005 và sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không.

Về nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2017/HS-ST ngày 09-6-2017 của Tòa án N dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xử phạt bị cáo 30.000.000 đồng, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 09-7-2018 và đã được đương nhiên xóa án tích.

Bị bắt tạm giam từ ngày 04-01-2021 đến ngày 15-01-2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh. (Có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Cao Thành D: Luật sư D.T.K.Th – Thành viên Đoàn luật sư tỉnh Long An (Có mặt).

- Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: Ngoài ra, còn có 07 bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị.

Những người tham gia tố tụng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, không triệu tập:

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Phan Hoàng T, sinh năm 1986;

2. D Tấn Đ, sinh năm 1986;

Cùng địa chỉ: Ấp H.T 1, xã H.K.T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

3. Vũ Xuân Th, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp T.H, xã Đ.L.T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An

4.Trương Thanh P, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp S.Đ, thị trấn MK, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

5. Nguyễn Vũ B, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ô3 khu A, thị trấn MK, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

6. Nguyễn Văn P, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp S.Đ, thị trấn MK, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

7. Trần Minh H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp B.T.T, xã T.P, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

8. Phan Minh H, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp S.Đ, thị trấn MK, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

9. Lý Thị D T, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số 27/25/4A Ô3 khu A, thị trấn MK, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

10. Nguyễn Thị K L, sinh năm 1979.Địa chỉ: Ấp S.Đ, thị trấn MK, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

11. Chu Ng Y, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp T.Q.T, xã T.P, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

12. Trần Văn Đ, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp H.T 2, xã H.K.T, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 12 năm 2020, T.M.P gặp Đ.V.N và rủ N tổ chức cho các con bạc tham gia đá gà thắng thua bằng tiền trái phép để lấy tiền hoa hồng chia nhau tiêu xài cá N, N đồng ý. P rủ thêm N.P.A.K (T), N.T.T (Cu Me) cùng tổ chức cho các con bạc đá gà thắng thua bằng tiền với N và P, K, T đồng ý. P và N phân công nhiệm vụ cho K làm trọng tài, cân cáp gà, phân định thắng thua các trận gà, T làm nhiệm vụ cảnh giới (canh đường) lực lượng chức năng khi có kiểm tra và dẫn con bạc đến địa điểm đá gà, P làm nhiệm vụ điện thoại hẹn gà, N trực tiếp chung tiền thắng thua với người tham gia đá gà và lấy tiền hoa hồng. Tiền hoa hồng thu được chia cho K từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng một ngày, T một ngày 500.000 đồng, số tiền còn lại P và N chia với nhau. Sau đó, N chuẩn bị địa điểm đá gà tại ấp B.T, xã T.P, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và chuẩn bị cân đồng hồ, cựa gà, ghế nhựa, 06 thanh gỗ, dây dù làm địa điểm đá gà, K chuẩn bị tấm nhựa màu trắng, P chuẩn bị băng keo băng cựa gà để cùng tổ chức đá gà thắng thua bằng tiền.

Đến ngày 25-12-2020, khi P hẹn gà đến địa điểm đá gà thì P và N quy định lấy tiền hoa hồng 05% trong tổng số tiền bên thắng cược, lấy 05% tiền hoa hồng nếu cá cược qua hàng sáo (qua biện). P, N, K, T tổ chức đá gà vào ngày 25-12-2020 tại ấp B.T, xã T.P, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An được 06 trận gà, trận cược thấp nhất 20.000.000 đồng, cao nhất 100.000.000 đồng. Thu tiền hoa hồng được 47.000.000 đồng, chia cho K số tiền 4.000.000 đồng, chia cho T số tiền 500.000 đồng, chia cho N số tiền 15.000.000 đồng, số tiền còn lại P giữ là 27.500.000 đồng.

Khoảng 10 giờ ngày 26-12-2020, với cách thức tổ chức như trên P lấy băng keo và cân rồi đến khu đất trống thuộc ấp B.T, xã T.P, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, cùng với N, K, T tiếp tục tổ chức cho các con bạc đá gà thắng thua bằng tiền trái phép các trận gà như sau:

Trận gà thứ nhất: Con gà màu lông đen trắng (gà xám), cân nặng 3,05kg của người có tên Quang (không rõ nhân thân, lai lịch) đá với gà màu lông bông đen (gà cú) cân nặng 2,9 kg của người có tên Chim (không rõ nhân thân, lai lịch), tiền cá cược trong sổ một bên thắng thua nhau là 115.000.000 đồng, gà xám đá chấp tỷ lệ 10 ăn 09. Trận gà này P điện thoại hẹn gà, N chung tiền thắng thua, lấy tiền huê hồng, K làm trọng tài, T.M.P canh đường. Kết quả trận gà này con gà xám thắng. N lấy tiền bên thua cược chung cho bên thắng cược và lấy tiền hoa hồng 5.750.000 đồng đưa cho P giữ.

Những người tham gia cá cược trong trận gà này gồm có: Phan Hoàng T, tham gia cá cược số tiền 1.000.000 đồng bên gà cú với người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), Hoàng T thua 900.000 đồng; D Tấn Đ, tham gia cá cược số tiền 1.000.000 đồng bên gà xám với người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), Đ thắng 900.000 đồng; Vũ Xuân Th, tham gia cá cược số tiền 1.000.000 đồng bên gà xám với người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), Th thắng được 900.000 đồng. Những đối tượng còn lại tham gia trận gà này không rõ họ tên, địa chỉ.

Trận gà thứ hai: Con gà màu lông vàng đen (gà hoe), cân nặng 1,55kg của người có tên Bi (không rõ nhân thân, lai lịch) đá với con gà màu lông đỏ đen (gà điều), cân nặng 1,62kg của N, tiền cá cược trong sổ một bên thắng thua nhau là 68.000.000 đồng, gà điều đá chấp tỷ lệ 10 ăn 6. Trận gà này P điện thoại hẹn gà, N chung tiền thắng thua, lấy tiền hoa hồng, K làm trọng tài, T.M.P canh đường. Kết quả trận gà này gà điều thắng. N lấy tiền bên thua chung cho bên thắng và lấy tiền hoa hồng 3.400.000 đồng đưa cho P giữ.

Người tham gia cá cược trong trận gà này có: Trương Thanh P, cá cược số tiền 1.000.000 đồng bên gà điều với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ). Kết quả trận gà này gà điều thắng, Thanh P thắng được 900.000 đồng. Những đối tượng còn lại tham gia trận gà này không rõ họ tên, địa chỉ.

Trận gà thứ ba: Con gà màu lông đỏ đen (gà điều), cân nặng 2,65kg của người có tên Bé (không rõ nhân thân, lai lịch) đá với gà màu lông bông đen (gà bướm), cân nặng 2,7kg của một người (không rõ họ tên, địa chỉ), tiền cá cược trong sổ một bên thắng thua nhau là 65.000.000 đồng, tỷ lệ cá cược gà bướm chấp 10 ăn 9. Trận này P điện thoại hẹn gà, N chung tiền thắng thua, lấy tiền hoa hồng, K làm trọng tài, T.M.P canh đường. Kết quả trận gà này gà điều thắng, N lấy tiền bên thua chung cho bên thắng và lấy tiền hoa hồng 3.250.000 đồng đưa cho P. Những đối tượng tham gia trận gà này không rõ họ tên, địa chỉ.

Trận gà thứ tư: Con gà màu lông vàng (gà khét), cân nặng 2,4 kg của T.H.T đá với con gà màu lông trắng, đen bông (gà bướm nâu), cân nặng 2,45 kg của Cao Thành D (R). Tiền cá cược trong sổ trận gà thứ tư này là 40.000.000 đồng, tỷ lệ cá cược gà bướm nâu chấp 10 đá ăn 8. Trong đó tham gia cá cược bên gà của T.H.T gồm: Túi góp số tiền 20.000.000 đồng, 01 người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) góp số tiền 20.000.000 đồng. D tham gia cá cược số tiền trong sổ 40.000.000 đồng. Khi 02 bên chủ gà thống nhất tiền cá cược, K làm trọng tài, T.M.P canh đường. Túi tự băng cựa con gà của T, Lê Hùng L ôm gà cho Nguyễn Văn N (G) băng cựa gà con gà của D (L và N biết rõ số tiền cược trong sổ 01 bên thắng thua nhau là 40.000.000 đồng). Khi 02 bên chủ gà đang chuẩn bị thả gà để đá thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

Những người tham gia cá cược ngoài sổ trong trận gà này gồm có: Nguyễn Vũ B, tham gia cá cược số tiền 500.000 đồng tiền với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ), B bắt cược bên gà khét của T.H.T; Nguyễn Văn P, tham gia cá cược số tiền 1.000.000 đồng bên gà khét của T.H.T với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ); Trần Minh H, tham gia cá cược số tiền 1.000.000 đồng tiền với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ), Trần Minh H bắt cược bên gà khét của T.H.T; Phan Minh H, tham gia cá cược số tiền 1.000.000 đồng bên gà khét của T.H.T với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ). Trận gà chưa có kết quả thắng thua thì bị bắt quả tang nên B, P, H, H chưa có thắng thua.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số144/2021/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Cao Thành D phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Cao Thành D 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án. Nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 04 tháng 01 năm 2021 đến ngày 15 tháng 01 năm 2021.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và mức hình phạt của các bị cáo khác, tuyên về xử lý vật chứng, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09 tháng 11 năm 2021, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Bị cáo D kháng cáo đúng thời hạn và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Cao Thành D phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng pháp luật và mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo là thỏa đáng. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất về tội danh như Cáo trạng và án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo D. Về khung hình phạt: Bị cáo D cá cược với bị án Túi và chỉ bỏ ra số tiền 40.000.000 đồng, nhưng án sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 là không đúng, hành vi phạm tội của bị cáo chỉ thuộc khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, mức án 03 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là quá nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận: Tổng số tiền trong trận gà này giữa bị cáo D với bị án Túi cá cược với nhau là 80.000.000 đồng, nên án sơ thẩm xét xử bị cáo có khung hình phạt tại điểm b khoản 2 điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo mong được Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo Cao Thành D kháng cáo đúng theo quy định của pháp luật tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo D khai nhận: Ngày 26-12-2020, tại khu vực ấp B.T, xã T.P, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, các bị cáo T.M.P, Nguyễn Phan Anh K, Nguyễn Tấn T.M.P, Đ.V.N đứng ra tổ chức đá gà, giữa con gà màu lông vàng (gà khét), cân nặng 2,4 kg của T.H.T đá với con gà màu lông trắng, đen bông (gà bướm nâu), cân nặng 2,45kg của Cao Thành D. Tiền cá cược trong sổ mỗi bên thắng thua với nhau là 40.000.000 đồng, tỷ lệ cá cược gà bướm nâu chấp 10 đá thắng 8 và 10 đá thắng 9. Tham gia cược trong sổ bên gà của T.H.T gồm: T góp số tiền 20.000.000 đồng, 01 người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) góp số tiền 20.000.000 đồng. D tham gia cá cược tiền trong sổ số tiền 40.000.000 đồng. Khi 02 bên chủ gà thống nhất tiền cá cược và chuẩn bị đá với nhau thì bị lực lượng Công an bắt quả tang. Như vậy, tổng số tiền hai bên cá cược với nhau là 74.000.000 đồng.

Xét, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung án sơ thẩm đã nêu. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo D phạm tội “Đánh bạc” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, là xét xử đúng người, đúng tội. Luật sư bào chữa cho rằng hành vi phạm tội của bị cáo D thuộc khoản 1 Điều 321 là không có căn cứ để chấp nhận.

Xem xét nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo để tuyên phạt mức án như trên là thỏa đáng.

[3] Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng tại cấp phúc thẩm không có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Về nhân thân, năm 2017 đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” cho đến ngày 09-7-2018 mới được xóa án tích và ngày 26-12-2020 tiếp tục phạm tội “Đánh bạc” thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Điều này chứng tỏ bị cáo không có ý thức tuân thủ pháp luật, nên cần giữ nguyên mức hình phạt và loại hình phạt như cấp sơ thẩm đã xét xử mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo như đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị. Không chấp nhận quan điểm đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo.

[4] Từ những phân tích trên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo D, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Cao Thành D phải chịu 200.000 đồng án phí do kháng cáo không được chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cao Thành D. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 144/2021/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, về hình phạt đối với bị cáo Cao Thành D.

Tuyên bố: Bị cáo Cao Thành D phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Cao Thành D 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án, nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 04 tháng 01 năm 2021 đến ngày 15 tháng 01 năm 2021.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng các Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Cao Thành D phải nộp 200.000 đồng án phí.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ