- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2017/HSST Ngày: 29.12.2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng
Bà Lê Thị Nhớ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trương Thùy Trang - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 159/2017/HSST ngày 28 tháng 11 năm 2017 đối với:
* Bị cáo: Phan H - Sinh ngày 20/8/1974 tại Đà Nẵng; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: 134 Đ, phường C, quận K, thành phố Đà Nẵng; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao đông phổ thông; con ông Phan M và bà Lê Thị X; có vợ (đã ly hôn) và 02 con; Tiền án, tiền sự: Chưa;
* Người bị hại: Ông Võ Văn T – Sinh năm 1982 – Địa chỉ: Tổ 26 phường Q, thành phố N, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phan Thị Diễm Th - Sinh năm 1976 - Địa chỉ: số 55 G, phường H, quận H1, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
2. Ông Lê Minh V - Sinh năm 1981 - Địa chỉ: số 06/2 V, phường A1, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
3. Ông Lê Ngọc Th1 – Sinh năm 1990 – Địa chỉ: K79 X1, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
4. Ông Phan M – Sinh năm 1949 – Địa chỉ: 134 Đ, phường C, quận K, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01h 00 ngày 10/8/2017, Phan H điều khiển xe môtô hiệu Honda Wave màu đỏ đen biển kiểm soát 43C1- 069.50 đến khách sạn Tây Hải 1 tại số 24 Tôn Thất Đạm, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để nghỉ qua đêm. Đến khoảng 07h 30 cùng ngày, H làm thủ tục trả phòng thì phát hiện 01 túi xách màu đen để trên ghế gỗ gần bàn lễ tân nên nảy sinh ý định trộm cắp. H lén lút lấy túi xách mang về nhà tại số 134 Đ, thành phố Đà Nẵng mở ra kiểm tra thấy bên trong có 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A6 màu đen, 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu trắng.
Ngày 14/8/2017, H đem máy tính xách tay bán cho ông Lê Minh V với số tiền 5.200.000đ và ông V bán lại cho ông Lê Ngọc Th1.
Ngày 17/8/2017, H đem máy tính bảng bán cho bà Phan Thị Diễm Th là chủ hiệu cầm đồ NT với số tiền 1.500.000đ và bà Th đã bán lại cho một khách hàng không rõ lai lịch.
Tất cả số tiền bán máy nêu trên H sử dụng tiêu xài cá nhân.
Theo kết luận định giá tài sản ngày 09/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xác định máy tính xách tay hiệu Dell có giá trị 8.340.000đ, máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A6 có giá trị 2.100.000đ. Tổng giá trị tài sản mà Phan H đã trộm cắp là 10.440.000đ.
Về trách nhiệm dân sự: ông Võ Văn T đã nhận lại tài sản là 01 túi xách màu đen, 01 máy tính xách tay hiệu Dell. Đối với máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A6 không thu hồi được, Phan H đã tự nguyện bồi thường cho ông T số tiền 3.000.000đ. Ông T đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Phan H.
Đối với xe môtô hiệu Honda Wave màu đỏ đen biển kiểm soát 43C1- 069.50 thuộc sở hữu của ông Phan M là cha ruột của Phan H, ông M không biết H mượn xe đi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra đã trả xe cho ông M.
Với nội dung trên cáo trạng số: 156/QĐ-KSĐT ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phan H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt Phan H từ 06 đến 09 tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đưa xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự là đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo thật sự biết ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng án treo để lao động nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành rố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi phạm tội: Ngày 10/8/2017, tại khách sạn Tây Hải 1 ở số 24 Tôn Thất Đạm, phường Xuân Hà, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng Phan H đã có hành vi lén lút lấy trộm của anh Võ Văn T 01 túi xách bên trong có 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab A6 màu đen, 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu trắng. Tài sản mà Phan H trộm cắp có tổng giá trị là 10.440.000đ.
Hành vi phạm tội trên đây của Phan H đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự;
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người hoàn toàn khỏe mạnh, có sức lao động và nhận thức được việc xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì lòng tham nên vẫn cố tình chiếm đoạt tài sản của anh T. Hành vi của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử để áp dụng một hình phạt là cần thiết.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, tại phiên tòa hôm nay và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng.
Do bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự nên HĐXX áp dụng điều 60 để cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thêm nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Phan H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ theo quy định tại Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Phan H phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt: Phan H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 18 tháng tính từ ngày 29/12/2017.
Giao bị cáo về UBND phường C, quận K, thành phố Đà Nẵng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án Hình sự. (Đã giải thích chế định án treo).
Áp dụng Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội; buộc Phan H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 29/12/2017). Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận (hoặc niêm yết) bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND quận Thanh Khê; - Công an quận Thanh Khê; - Chi cục THA quận Thanh Khê; - Bị cáo, người bị hại; - Người liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Hậu |