- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRần Văn B - sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2026/HS-ST Ngày: 27/3/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Hoàng Khương;
Ông Võ Thanh Liêm.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương- Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Minh Nhật- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2026, ta ̣i Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 6 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Trần Văn B, sinh ngày 01/01/1973 tại xã V, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp V, xã V, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Phong S (đã chết) và Bùi Thị T; Vợ Huỳnh Thanh T1; Con có 03 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang được tại ngoại; có mặt
Người làm chứng: Nguyễn Thị Kiều E, sinh năm 1997; Nơi cư trú: ấp K, xã V, tỉnh An Giang; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn thu lợi từ việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu nên vào ngày 05/11/2025, Trần Văn B đã liên hệ mua từ một người đàn ông (không rõ nhân thân lý lịch) 210 cây thuốc lá điều (mỗi cây có 10 bao thuốc lá) nhãn hiệu HERO, với số tiền 38.220.000 đồng. Trần Văn B mang số thuốc lá trên đem cất giấu tại nhà của mình ở ấp V, xã V, tỉnh An Giang, sau đó tìm mối tiêu thụ bán lại để kiếm lời phục vụ nhu cầu tiêu xài cá nhân.
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06/11/2025, Trần Văn B dùng điện thoại cá nhân nhãn hiệu Oppo Reno 11 5G có gắn SIM số thuê bao 0942711767, gọi điện thoại cho bà Nguyễn Thị Kiều E (có cửa hàng kinh doanh tạp hóa) hỏi bà Kiều E có mua thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO không thì bà Kiều E đồng ý mua 20 cây thuốc lá, với giá 186.000 đồng/cây. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Trần Văn B lấy 20 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO (trong tổng số 210 cây thuốc lá đã mua) cho vào một thùng giấy rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblde mang biển kiểm soát 68M1-439.43 (xe do Trần Văn B đứng tên chủ sở hữu) chở số thuốc lá trên đến ấp K, xã V, tỉnh An Giang bán cho bà Nguyễn Thị Kiều E. Đến 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi Trần Văn B đến giao 20 cây (200 bao) thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO cho bà Nguyễn Thị Kiều E thì bị lực lượng Công an xã V phát hiện bắt quả tang. Sau khi bị bắt quả tang, Trần Văn B tự nguyện khai nhận đang cất giấu 190 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO tại nhà riêng. Sau đó, Công an xã V tiến hành thu giữ và niêm phong toàn bộ số thuốc lá trên.
Ngày 06/11/2025, Công an xã V, tỉnh An Giang ban hành Công văn số 32/CAX-PCTP, kèm theo là 01 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO đã được niêm phong (trong tổng số thuốc là điếu đã thu giữ từ Trần Văn B) yêu cầu H xác định thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO trên có phải là hàng cấm hay không.
Tại Văn bản số 200/CVTĐ-2025 ngày 07 tháng 11 năm 2025 của H xác định: 01 mẫu cây thuốc lá điếu có nhãn hiệu Hero là thuốc lá điếu nhập lậu.
Vật chứng thu giữ:
- 2.100 (Hai ngàn một trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO, không dán tem nhãn tiếng Việt, được đóng thành 210 cây thuốc lá, được niêm phong trong hai thùng giấy carton (01 thùng chứa 1.900 bao và 01 thùng chứa 200 bao), được dán kín bằng keo, tại phần giáp lai có dán các tem niêm phong, trên tem niêm phong có chữ ký và ghi họ tên của ông Trần Văn B, Điều tra viên Lê Tấn N và hình con dấu tròn màu đỏ của Công an xã V. Mặt trên hai thùng có dán giấy ghi dòng chữ “Tang vật thuốc lá HERO trong vụ buôn bán hàng cần cấm xảy ra ngày 06/11/2025 tại ấp K, xã V, tỉnh An Giang";
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại AIR BLADE, biển kiểm soát 68M1-439.43, số khung RLHKF4107MZ618950, số máy: KF41E0155653, xe đã qua sử dụng, trầy xước nhiều nơi, không gương, xe được dán các tem niêm phong tại các vị trí quan trọng trên xe, trên tem niêm phong có chữ ký và ghi họ tên của ông Trần Văn B, Điều tra viên Lê Tấn N và hình con dấu tròn màu đỏ của Công an xã V;
- 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng trầy xước nhiều nơi, nhãn hiệu Oppo Reno 11 5G, số IMEI 1: 865055064195058; số IMEI 2: 865055064195041, gắn SIM điện thoại số 0942711767, được niêm phong trong phong bì màu trắng, mặt trước ghi dòng chữ “Tang vật điện thoại trong vụ buôn bán hàng cấm xảy ra ngày 06/11/2025 tại ấp K, xã V, tỉnh An Giang", dán kín bằng keo, phần giáp lai có chữ ký và ghi họ tên của ông Trần Văn B, Điều tra viên Lê Tấn N và hình con dấu tròn màu đỏ của Công an xã V.
Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKSKV6 ngày 10 tháng 02 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - An Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 đến 03 năm.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 luật Tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu, tiêu huỷ: 2.100 (hai nghìn một trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO, được đóng thành 210 cây thuốc lá và 01 thẻ SIM điện thoại số 0942711767 (được gắn trong chiếc điện thoại O 11 5G).
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, biển kiểm soát 68M1-439.43, số khung RLHKF4107MZ618950, số máy KF41E0155653 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 11 5G, số IMEII: 865055064195058, số IMEI2: 865055064195041.
- Bi ̣ cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. [2] Về thủ tục tố tụng: Đối với việc vắng của người lám chứng Nguyễn Thị Kiều E đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt Nguyễn Thị Kiều E.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Trần Văn B thừa nhận toàn bộ hành vi. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ trong vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Do muốn thu lợi bất chính từ việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu nên vào ngày 05/11/2025, Trần Văn B đã mua từ một người đàn ông 210 cây (2.100 bao) thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, rồi đem về cất giữ tại nhà riêng, sau đó tìm mối tiêu thụ bán lại để hưởng tiền trên lệch. Đến ngày 06/11/2025 Trần Văn B dùng điện thoại cá nhân nhãn hiệu Oppo Reno 11 5G liên lạc, rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68M1-439.43 chở 20 cây (200 bao) thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO đến ấp K, xã V, tỉnh An Giang, bán cho Nguyễn Thị Kiều E thì bị Công an xã V phát hiện bắt quả tang.
Tại Văn bản số 200/CVTĐ-2025 ngày 07 tháng 11 năm 2025 của H xác định: 01 mẫu cây thuốc lá điếu có nhãn hiệu Hero là thuốc lá điếu nhập lậu.
Khi thực hiện hành vi, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; thực hiê ̣n hành vi vớ i lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý một số loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh. Do đó, cần tuyên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành thật khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi bị cáo tự thú nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xem xét có phần giảm nhe ̣ cho bi ̣ cáo.
Nhận thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát cũng đủ để răn đe giáo dục.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 luật Tố tụng hình sự.
Đối với vật chứng là 2.100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO, được đóng thành 210 cây thuốc lá, là hàng cấm nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.
Đối với vật chứng là: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, biển kiểm soát 68M1-439.43, số khung RLHKF4107MZ618950, số máy KF41E0155653 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 11 5G, số IMEII: 865055064195058, số IMEI2: 865055064195041, là các tài sản cá nhân của bị cáo Trần Văn B, đã dùng làm công cụ, phương tiện cho việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu nên Hội đồng xét xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu, tiêu hủy 01 thẻ SIM điện thoại số 0942711767 (được gắn trong chiếc điện thoại Oppo Reno 11 5G) do không còn giá trị sử dụng.
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và các Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm, tính kể từ ngày tuyên án (ngày 27/3/2026). Giao bị cáo Trần Văn B cho Ủy ban nhân dân xã V giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. 2- Về xử lý vật chứng: + Tịch thu, tiêu hủy: 2.100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO, được đóng thành 210 cây thuốc lá và 01 thẻ SIM điện thoại số 0942711767 (được gắn trong chiếc điện thoại O 11 5G). + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, biển kiểm soát 68M1-439.43, số khung RLHKF4107MZ618950, số máy KF41E0155653 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 11 5G, số IMEII: 865055064195058, số IMEI2: 865055064195041. (Vật chứng trên hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - An Giang đang quản lý theo biên bản giao nhận ngày 12/02/2026).
3- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - UBND, CA xa Vĩnh Phong;̃ - VKSND khu vực 6 - An Giang; - Phòng Thi hành án khu vực 6 - An Giang; - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - Phòng hồ sơ CA tỉnh An Giang; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kiều Diễm |