vanban.org

Bản án 15/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Minh K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”

Xử phạt: Bị cáo Trịnh Minh K 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Chí Đ phạm tội “Tổ chức đánh bạc” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Minh Kha - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Minh K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”
  • Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THÁP M
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2025/HS-ST
Ngày:22-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP M

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ánh

Ông Lê Văn Vững

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đ - Thư ký Tòa án.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp M tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Huyện, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công Ki vụ án hình sự thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/HSST-QĐ, ngày 10/01/2025, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trịnh Minh K, sinh năm 1999; nơi sinh Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp MT, xã Phú Điền, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hóa 06/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Trịnh Tuấn K, sinh năm 1975 (còn sống) và bà Trần Thị T, sinh năm 1974 (còn sống); vợ con chưa có; gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; tiền sự, tiền án: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên Tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Huỳnh Chí Đ, sinh năm 2003; nơi sinh Đồng Tháp; nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: Ấp 3, xã ĐBK, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp làm thuê; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 (còn sống) và bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1975 (còn sống); vợ con chưa có; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con lớn trong gia đình; tiền sự, tiền án: Không; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên Tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trương Hoàng T1, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Nơi cư trú: xã TT, huyện TT1, tỉnh Long An.

2. Anh Trần T Sử, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 4, xã ĐBK, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp.

3. Anh Lâm Chí T1, sinh năm 1996 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 1, xã ĐBK, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp.

4. Anh Nguyễn Minh T2, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 4, xã ĐBK, huyện TM, tỉnh Đồng Tháp.

5. Anh Lê Tấn Đ, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 4, xã ĐBK, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

6. Anh Ngô Văn Bé M, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 5, xã ĐBK, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

7. Anh Phạm Văn S, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 1, xã ĐBK, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Anh Trịnh Tuấn K, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 4, xã ĐBK, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

2. Anh Huỳnh T Trúc, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Nơi cư trú: xã TT, huyện TT1, tỉnh Long An.

3. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 4, xã ĐBK, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

4. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp MT, xã Phú Điền, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

5. Anh Lê Vũ O, sinh năm 1995 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 3, xã ĐBK, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

6. Anh Huỳnh T V, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 3, xã ĐBK, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

7. Anh Nguyễn Minh T2, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 4, xã ĐBK, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

8. Anh Nguyễn Anh H3, sinh năm 2002 (vắng mặt).

Nơi cư trú: xã TT, huyện TT1, tỉnh Long An.

9. Anh Nguyễn Hồng T4, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 4, xã Tân Kiều, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

10. Anh Nguyễn T Tuấn, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 4, xã Tân Kiều, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

11. Anh Nguyễn T Tường, sinh năm 2005 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 4, xã Tân Kiều, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

12. Anh Nguyễn Minh Đ4, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Nơi cư trú: ấp 4, xã ĐBK, huyện Tháp M, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, lúc 12 giờ 50 phút ngày 27/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tháp Mười phối hợp Công an xã ĐBK, huyện Tháp Mười phát hiện bị cáo Trịnh Minh K và các đối tượng Trương Hoàng T1, Trần T Sử, Lâm Chí T1, Nguyễn Minh T2, Lê Tấn Đ, Ngô Văn Bé M, Phạm Văn S đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền tại vườn mít của ông Nguyễn Minh Đức thuộc ấp 4, xã ĐBK, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp nên lập biên bản vi phạm và thu giữ vật chứng có liên quan.

Quá trình điều tra đã xác định, vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 27/01/2024, bị cáo K gọi điện rủ M đá gà được thua bằng tiền thì được người này đồng ý. Từ đây, K tiếp tục gọi điện thoại cho bị cáo Nguyễn Huỳnh Chí Đ tìm nơi tổ chức đá gà. Đ cho K biết, trong vườn mít của ông Nguyễn Minh Đức có một khu đất trống là địa điểm thích hợp. K đồng ý, nói Đ đến đường nông thôn cặp Kênh Bùi, cách sân gà khoảng 500m để canh gác, khi phát hiện người lạ mặt hoặc lực lượng Công an thì thông báo cho K biết để giải tán sân gà với tiền công từ 100.000 đến 200.000 đồng, rồi gọi điện thoại hẹn M đem gà đến.

Sau đó, tại nhà của K ở ấp MT, xã Phú Điền, K chuẩn bị 3 con gà trống và 01 cân đồng hồ, 2 cặp cựa, 20 cuộn băng keo rồi điện thoại kêu Nguyễn Văn Mãi là người hành nghề xe ôm đến chở K đến sân gà. Trên đường đi, K rủ thêm Phạm Văn S và Nguyễn Chí T1 đi theo để đánh bạc.

Tai sân gà, K nói sẽ thu tiền sân là 200.000 đồng với mỗi trận gà từ người thắng thì được những người tham gia đánh bạc đồng ý. Từ khoảng 12 giờ đến khi bị phát hiện, K đã tổ chức được 02 trận gà để các con bạc tham gia cá cược. Cụ thể như sau:

Trận thứ nhất, gà trắng của K thắng gà đen của M:

- Bị cáo K cược 1.200.000 đồng (trong đó, Phạm Văn S hùn 200.000 đồng, Lâm Chí T1 hùn 300.000 đồng), M cược 1.200.000 đồng.

- Ngoài ra, M còn thua cược 02 người lạ mặt số tiền 2.000.000 đồng.

- Như vậy, trong trận này có 06 người tham gia cá cược (trong đó, có 04 người thông qua biện) với số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 6.400.000 đồng (trong đó, có 2.400.000 đồng thông qua biện).

Trận thứ hai giữa gà xám của K và gà trắng của Lê Tấn Đ, trận gà đang diễn ra thì bị phát hiện:

- Bị cáo K cược 1.200.000 đồng (trong đó, Phạm Văn S hùn 200.000 đồng, Lâm Chí T1 hùn 300.000 đồng), Đ cược 1.200.000 đồng (trong đó, Trần T Sử hùn 300.000 đồng, Nguyễn Minh T2 hùn 300.000 đồng và Tâm (chưa xác định được nhân thân) hùn 300.000 đồng).

- Trương Hoàng T1 cược với 01 người lạ mặt số tiền 500.000 đồng.

- Như vậy, trong trận này có 09 người tham gia (trong đó, có 07 người thông qua biện) với tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 3.400.000 đồng (trong đó, có 2.400.000 đồng thông qua biện).

Ngoài lần phạm tội nêu trên, tại cơ quan điều tra, các bị cáo còn Ki nhận, với phương thức trên, trong tháng 12/2023, Đ đã canh gác để K tổ chức 01 trận gà được thua bằng tiền để hưởng lợi 100.000 đồng. Ngoài lời Ki của các bị cáo, không có chứng cứ nào khác để xác định được các đối tượng tham gia đánh bạc và số tiền dùng vào việc đánh bạc.

Về vật chứng, tài sản đã thu giữ và xử lý: Cơ quan điều tra đã thu giữ tiền, nhiều điện thoại và xe mô tô của những người có liên quan. Với các tài sản đã được xác định là không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan điều tra Công an trao trả cho chủ sở hữu hoặc chuyển kèm hồ sơ đề nghị xử phát hành chính, chỉ tiếp tục tạm giữ vật chứng và tiền dùng vào việc đánh bạc, có được từ việc đánh bạc. Cụ thể:

- Tạm giữ 01 cân đồng hồ loại hiệu Nhơn Hòa, 01 tấm kính, 04 cây cựa, 10 cuộn băng keo đã qua sử dụng, 07 con gà trống (đã xử lý bằng hình thức tiêu hủy).

- Tạm giữ của Nguyễn Huỳnh Chí Đ 550.000 đồng và điện thoại di động hiệu Iphone 11, của Nguyễn Văn Bé M 7.000.000 đồng.

Đối với điện thoại di động hiệu Nokia K dùng vào việc phạm tội, bị cáo Ki đã làm rớt mất, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thấy.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án đến nay, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản Cáo trạng số 90/CT-VKSTM ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát huyện Tháp M, đã truy tố bị cáo Trịnh Minh K, Nguyễn Huỳnh Chí Đ về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Đ diện Viện kiểm sát huyện Tháp Mười thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đã phát biểu quan điểm luận tội, đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với các bị cáo. Sau khi phân T hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Căn cứ Điều 322 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trịnh Minh K, Nguyễn Huỳnh Chí Đ phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

+ Về hình phạt:

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Trịnh Minh K từ 1 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù.

* Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 322 phạt bổ sung bằng tiền bị cáo Trịnh Minh K từ 20.000.000 đồng đồng đến 30.000.000 đồng.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Chí Đ từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp phạt bổ sung bằng tiền bị cáo Nguyễn Huỳnh Chí Đ.

+ Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên xử:

- Tịch thu tiêu hủy 01 cân đồng hồ loại hiệu Nhơn Hòa, 01 tấm kính, 04 cây cựa, 10 cuộn băng keo đã qua sử dụng.

- Buộc Trịnh Minh K nộp 2.100.000 đồng, Phạm Văn S nộp 600.000 đồng, Lâm Chí T1 nộp 900.000 đồng, Trương Hoàng T1 nộp 500.000 đồng dùng vào việc đánh bạc để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của Nguyễn Huỳnh Chí Đ 100.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 là tài sản vào dùng việc phạm tội, có được từ việc phạm tội.

- Tiếp tục tạm giữ của Nguyễn Huỳnh Chí Đ 450.000 đồng để đảm bảo thi hành án

- Trả lại 7.000.000 đồng cho Nguyễn Văn Bé M do không liên quan đến việc phạm tội.

Các bị cáo Ki tại phiên tòa: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố các bị cáo.

Bị cáo Trịnh Minh K và bị cáo Nguyễn Huỳnh Chí Đ nói lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời Ki của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng. Xét thấy, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng cùng vắng mặt (lần thứ hai) không có lý do nhưng đã có lời Ki của những người này trong hồ sơ vụ án, nên không gây trở ngại cho việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tháp M, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Tháp M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy, kết quả điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã chứng minh được trong khoảng thời gian liên tục từ khoảng 12 giờ 00 phút đến 12 giờ 50 phút ngày 27/01/2024, bị cáo Trịnh Minh K dưới sự giúp sức canh gác của bị cáo Nguyễn Huỳnh Chí Đ đã tổ chức đánh bạc dưới hình thức đá gà được thua bằng tiền cho 11 lượt người tham gia trong 02 trận (trận thứ nhất 04 người, trận thứ hai 07 người) với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc thông qua việc tổ chức của các bị cáo là 2.400.000 đồng mỗi trận. Vụ án xảy ra tại ấp 4, xã ĐBK, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.

Xét, lời Ki nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp với lời Ki của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và nhất là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập đầy đủ trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Viện kiểm sát huyện Tháp Mười truy tố bị cáo Trịnh Minh K, Nguyễn Huỳnh Chí Đ về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự được quy định như sau:

“ Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…………………………………………………………………………………….…

d) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc.

……………………………………………………………………………………...”

Xét, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến an toàn, trật tự được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự, trị an ở địa phương thể hiện thái độ coi thường pháp luật; do đó cần phải có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết các bị cáo thành khẩn Ki báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ có ông ngoại tên Huỳnh Văn Hòa được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng 3 theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.

Trên cơ sở xem xét tính chất của vụ án và hậu quả của hành vi phạm tội là nghiêm trọng; xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo, để các bị cáo tu dưỡng phấn đấu trở thành công dân tốt biết tôn trọng pháp luật và sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trịnh Minh K.

Xét, đề nghị của Vị Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp M là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận. Tuy nhiên, riêng về phần mức án phạt tù, Hội đồng xét xử sẽ xem xét toàn bộ tài liệu, chứng cứ, cũng như tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo trong vụ án này để xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Đối với bị cáo Trịnh Minh K và các đối tượng Trương Hoàng T1, Trần T Sử, Lâm Chí T1, Nguyễn Minh T2, Lê Tấn Đ, Ngô Văn Bé M, Phạm Văn S tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, chưa đủ định lượng cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự, đồng thời, những người này chưa có tiền sự, tiền án về hành vi “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc”, “Gá bạc” nên Cơ quan điều tra chuyển cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, là có căn cứ và phù hợp.

Đối với Trịnh Tuấn K, Huỳnh T Trúc, Nguyễn Văn Sỹ, Nguyễn Văn Mãi, Lê Vũ Oanh, Huỳnh T Vũ, Nguyễn Minh T2, Nguyễn Anh Hào, Nguyễn Hồng Tâm, Nguyễn T Tuấn, Nguyễn T Tường tuy có mặt tại sân gà nhưng không tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền nên không xem xét xử lý, là có căn cứ và phù hợp.

Quá trình điều tra, các bị cáo Ki trong tháng 12-2023, Đ đã canh gác để K tổ chức 01 trận gà được thua bằng tiền để hưởng lợi 100.000 đồng. Ngoài lời Ki của các bị cáo, không có chứng cứ nào khác để xác định được các đối tượng tham gia đánh bạc và số tiền dùng vào việc đánh bạc nên không có căn cứ để xem xét, xử lý, là có căn cứ và phù hợp.

Đối với Nguyễn Minh Đức không biết việc đánh bạc diễn ra trên phần đất của mình nên không xem xét xử lý, là có căn cứ và phù hợp.

Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị của Kiểm sát viên là đúng với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo Trịnh Minh K, Nguyễn Huỳnh Chí Đ bị kết tội; các bị cáo không thuộc trường hợp không phải chịu án phí theo quy định tại Điều 11 và không thuộc trường hợp miễn nộp án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Do đó, các bị cáo Trịnh Minh K, Nguyễn Huỳnh Chí Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; có quyền kháng cáo bản án này theo quy định tại Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm d, khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Điều 17, điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Minh K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”

- Xử phạt: Bị cáo Trịnh Minh K 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Căn cứ khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự, xử phạt bổ sung bằng tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đối với bị cáo Trịnh Minh K, buộc bị cáo Trịnh Minh K phải nộp để nộp vào ngân sách Nhà nước.

2. Căn cứ điểm d, khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Điều 17, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Chí Đ phạm tội “Tổ chức đánh bạc”

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Chí Đ 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

- Tịch thu tiêu hủy 01 cân đồng hồ loại hiệu Nhơn Hòa, 01 tấm kính, 04 cây cựa, 10 cuộn băng keo đã qua sử dụng.

- Buộc Trịnh Minh K nộp 2.100.000 đồng, Phạm Văn S nộp 600.000 đồng, Lâm Chí T1 nộp 900.000 đồng, Trương Hoàng T1 nộp 500.000 đồng dùng vào việc đánh bạc để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của Nguyễn Huỳnh Chí Đ 100.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 là tài sản vào dùng việc phạm tội, có được từ việc phạm tội.

- Tiếp tục tạm giữ của Nguyễn Huỳnh Chí Đ 450.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại 7.000.000 đồng cho Nguyễn Văn Bé M do không liên quan đến việc phạm tội.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Trịnh Minh K và bị cáo Nguyễn Huỳnh Chí Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống Đ hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ