vanban.org

Bản án 15/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Huệ, tỉnh Long An Tuyên án 06/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

46, Điều 47, 50 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 326, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa á…

Tuyên bố bị cáo Lê Anh Q phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xử phạt bị cáo Lê Anh Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh Q "Buôn bán hàng cấm" - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 46, Điều 47, 50 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 326, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa á…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST
Ngày: 06-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Tấn Rỏn.

2. Bà Nguyễn Thanh Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức

Huệ, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An tham

gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02

năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 24

tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Anh Q, sinh ngày 14/01/2002; tại: tỉnh Long An; nơi cư trú: Ấp F, xã M,

huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; Dân

tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn

Đ và bà Nguyễn Thị H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị

tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/9/2024 cho đến nay. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Văn A R - Sinh

năm 1993 - Địa chỉ: Ấp E, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Khoảng trưa ngày 30/01/2024, khi đi cùng xe mô tô với Nguyễn Văn P, bị

cáo Q nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ về bán lại cho người khác để kiếm lãi trong

dịp tết Giáp Thìn năm 2024, nên Q nhờ P mua dùm 10 hộp pháo hoa nổ, P đồng ý báo giá cho Q biết là 400.000 đồng/hộp, Q đồng ý mua 10 hộp và đưa cho P 4.000.000 đồng, P hẹn khi nào có pháo sẽ báo cho Q biết. Đến khoảng 14 giờ ngày 01/02/2024, P gọi điện kêu Q đến nhà của P chở P đi lấy pháo, Q đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 62S1-360.50 đến nhà của P và chở P đi vào đường bờ đê, khi đến đoạn đường thuộc ấp F, xã M, huyện Đ thì gặp hai người đàn ông Campuchia chờ sẵn để giao pháo. Tại đây Q và P nhận 10 hộp pháo hoa nổ, trọng lượng 17,5kg đựng trong túi nylon màu đen; 01 bao nylon màu xanh bên trong có 40 túi nhỏ chứa nhiều vật dạng hình cầu, nhiều màu sắc, có trọng tượng 19,6kg. Sau khi nhận xong, P trả tiền cho 02 người đàn ông Campuchia. P và Q lấy 10 hộp pháo hoa nổ để trên ba ga giữa xe, P điều khiển xe, Q ngồi sau ôm 01 bao nylon màu xanh bên trong có 40 túi nhỏ chứa nhiều vật dạng hình cầu, nhiều màu sắc, khi P điều khiển xe đi được khoảng 500m, thì bị lực lượng Đồn Biên phòng cửa khẩu M chốt chặn, ra tín hiệu dừng xe kiểm tra, thì P dừng xe lại cùng Q chạy thoát khỏi hiện trường, bỏ lại xe mô tô biển số 62S1-360.50 cùng với số pháo vừa mua được. Lực lượng Đồn Biên phòng đã tiến hành lập biên bản vụ việc, tiến hành xác minh ban đầu, sau đó chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền. Đến ngày 15/9/2024, Q bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ bắt giữ.

Tang vật thu giữ:

- 10 khối hình hộp chữ nhật kích thước 17cm x 17cm x 10cm bên ngoài bọc

giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ)

- 40 túi nylon chứa các vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu

sắc, đường kính 2,7 cm, một đầu có đoạn dây màu xanh gửi giám định là pháo nổ.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xám, không có thẻ sim.

- 01 xe mô tô biển số 62S1-360.59.

Tại bản Kết luận giám định số 1341/KL-KTHS ngày 02/02/2024 của Phân

viện khoa học hình sự - Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- 10 khối hình hộp chữ nhật kích thước 17cm x 17cm x 10cm bên ngoài bọc

giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ) tổng khối lượng 17,5 kg;

- 40 túi nylon chứa các vật hình cầu dạng quả bóng đá, vỏ nhựa nhiều màu

sắc, đường kính 2,7 cm, một đầu có đoạn dây màu xanh gửi giám định là pháo nổ có tổng khối lượng 19,6kg.

H1 lại 07 hộp giấy hình chữ nhật, bên ngoài có ghi nhãn hiệu nước ngoài

kích thước 10 x 17 x 17cm, 38 gói nylon có chứa các vật hình tròn nhiều màu sắc hoa văn dạng quả bóng đá, một đầu gắn đoạn dây cháy chậm màu xanh, đường kính 2,7cm.

Quá trình điều tra xử lý tang vật:

Trả lại cho bị cáo Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xám, không

có thẻ sim.

Tiêu hủy 07 hộp giấy hình chữ nhật, bên ngoài có ghi nhãn hiệu nước ngoài

kích thước 10 x 17 x 17cm, 38 gói nylon có chứa các vật hình tròn nhiều màu sắc

hoa văn dạng quả bóng đá, một đầu gắn đoạn dây cháy chậm màu xanh, đường

kính 2,7cm (được hoàn lại sau giám định).

Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 06/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức

Huệ đã truy tố bị cáo Lê Anh Quân về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản

1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ sau khi phân

tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Anh Q phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 của

Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Anh Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về tang vật: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật

Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô biển

số 62S1-360.59.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của Cơ quan cảnh sát điều

tra, Quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và Cáo trạng của Viện kiểm sát

truy tố bị cáo đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành

vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng và hợp pháp.

Khoảng 14 giờ ngày 01/02/2024, bị cáo Lê Anh Q và Nguyễn Văn P có

hành vi mua tổng cộng 37,1kg pháo nổ và pháo hoa nổ trên đường vận chuyển

bằng xe mô tô thì bị lực lượng Đồn Biên phòng M ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra,

nhưng sợ bị phát hiện nên đã bỏ lại xe mô tô và tang vật tẩu thoát. Trong quá trình

điều tra vụ án P và Q bỏ trốn khỏi nơi cư trú, đến ngày 15/9/2024, Q bị Cơ quan

Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ bắt giữ.

Tại phiên toà, bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai

nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của người làm chứng biên bản giữ người

trong trường hợp khẩn cấp Công an huyện Đ lập lúc 09 giờ 40 phút ngày 15/9/2024

và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ

sở đó đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Lê Anh Q phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 06/02/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Q với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo Q là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự

quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo là người đã thành niên thực hiện với lỗi cố ý do ham thu lợi nên từ đó bị cáo mua bán hàng hóa là pháo hoa nổ.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết gảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố

và xét xử thật thà khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những nhận định nêu trên, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã

hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt đối

với bị cáo Q là có cơ sở theo quy định pháp luật.

Về tang vật: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106

Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ đen, số khung RLHJC5328CY036899, số máy JC54E-0069395, biển số 62S1-360.59 do ông R đứng tên chủ sở hữu nhưng ông R đã bán lại cho bị cáo Q. (Tang vật do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý).

Đối với Nguyễn Văn P Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có quyết định tách

hành vi nên không đề cập xem xét, sau này bắt được sẽ xử lý sau.

Bị cáo Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều

46, Điều 47, 50 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 326, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Lê Anh Q phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

3. Xử phạt bị cáo Lê Anh Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm

giữ, tạm giam (ngày 15/9/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo Q 45 ngày kể từ ngày

tuyên án (06/3/2025) để đảm bảo cho việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

4. Về tang vật:

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại

Future, màu đỏ đen, số khung RLHJC5328CY036899, số máy JC54E-0069395,

biển số 62S1-360.59. (Tang vật do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ

đang quản lý).

5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Anh Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn

đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn

15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 06/3/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt

hợp lệ.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án

dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi

hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9

Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ