vanban.org

Bản án 15/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Tuyên án 11/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc H. phạm tội Sản xuất hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN BÌNH
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST.
Ngày 11-4-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Trường.

Bà Trần Thế Yên.

-Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Kim Thao– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiếu- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/HSST ngày 18-3-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 07 tháng 11 năm 2003 tại Yên Bái. Nơi ĐKNKTT tại: Thôn Đ, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú hiện nay: Thôn Đ, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1972 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1973. Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15-12-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

- Người có quyền lợi liên quan:

+ Chị Vũ Ánh T, sinh năm 2003. Trú tại: Tổ 3, phường Hợp Minh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

+ Bà Phạm Thị H, sinh năm 1973. Trú tại: Thôn Đào Kiều 2, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

- Người chứng kiến:

+ Ông Đào Ngọc C, sinh năm 1955. Trú tại: Thôn Đào Kiều 2, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01 giờ 00 ngày 15-12-2023, trong quá trình tuần tra, kiểm soát tại khu công nghiệp Đầm Hồng thuộc địa phận phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Công an thành phố Yên Bái phát hiện Nguyễn Ngọc H điều khiển xe mô tô BKS 21 B2- 298.78 không có giấy tờ xe, trong điện thoại của H có nhiều hình ảnh, tin nhắn liên quan đến việc mua bán pháo nổ, Công an thành phố Yên Bái đã lập biên bản, yêu cầu H về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc với Công an thành phố Yên Bái, Nguyễn Ngọc H đã khai nhận việc sản xuất pháo nổ tại nhà riêng tại thôn Đ, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Ngọc H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ông Nguyễn Mạnh T và bà Đỗ Thị T là bố đẻ và bà nội của H tại thôn Đ, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã phát hiện và thu giữ:

Tại khu vực bếp nhà bà Đỗ Thị T, Cơ quan điều tra thu giữ 01 thùng xốp màu trắng, kích thước (60x44,5x40,5)cm được đậy kín, bên trong có: 91 cuộn giấy hình trụ có kích thước khác nhau, mỗi khối giấy hình trụ do nhiều khối giấy hình trụ có kích thước, khối lượng không xác định liên kết lại với nhau tạo thành, bên ngoài bọc kín bằng nilon, 03 khối giấy hình chữ nhật, mỗi khối do nhiều cuộn giấy hình trụ có kích thước và số lượng khác nhau không xác định liên kết tạo thành, bên ngoài bọc kín bằng nilon.

Tại bàn gỗ trong phòng ngủ của Nguyễn Ngọc H ở nhà ông Nguyễn Mạnh T. Cơ quan điều tra thu giữ: 01 hộp gỗ có nắp rời, kích thước (12x12x44)cm trên nắp hộp có chữ Ducadi poggioreal (r) licilia Tlalia; 01 lọ nhựa màu trắng, không có nắp, trong lọ không có gì, thân lọ có chữ 502, có dán tem màu trắng dòng chữ NPL 502 SUPEK GLUE; 36 lọ nhưa màu trắng, không có nắp, bên trong không có gì, thân lọ có chữ “Độ kết dính cao”; 01 ống nhựa có chiều dài 28cm, một đầu đường kính 3,4cm, đầu còn lại không được mài bằng. Tại phía sau cửa nghách bên trái phòng ngủ của Nguyễn Ngọc H có 01 ống nhựa có chiều dài 14cm, đường kính hai đầu 6cm, 01 hộp kim loại không có nắp, màu xanh kích thước (10,5x27,5x7)cm; 04 nắp hộp keo 502; 03 ống nhựa nhỏ keo 502 (vòi keo); 03 dây màu hồng có kích thước khác nhau; 04 đoạn giấy màu hồng được cắt nhỏ có kích thước khác nhau.

Quá trình điều tra Nguyễn Ngọc H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

Cuối tháng 11-2023, H kết bạn trên mạng xã hội với người có tài khoản facebook “Đao The Anh” sau đổi thành “The Anh”, “Nguyễn Duy Ngọc” (sau đây gọi là “Đao The Anh”), người này hỏi mua pháo nổ, Nguyễn Ngọc H đã báo giá bán pháo nổ cho “Đao The Anh” với giá: Pháo quả to: 1.500.000đ/quả; pháo quả nhỡ: 500.000đ/quả; pháo quả nhỏ: 50.000đ/quả; bánh pháo 100 quả to: 1.500.000đ/bánh; bánh pháo 200 quả nhỏ: 1.800.000đ/bánh; bánh pháo 100 quả nhỏ: 900.000đ/bánh. “Đao The Anh” đặt mua của H: 04 quả pháo to; 04 quả pháo nhỡ; 83 quả pháo nhỏ; 01 bánh pháo loại 100 quả to; 01 bánh pháo loại 200 quả nhỏ; 02 bánh pháo loại 100 quả nhỏ với tổng giá trị tính bằng tiền 17.250.000đ. Hai bên thỏa thuận giao pháo vào rạng sáng ngày 15-12-2023 tại khu công nghiệp Đầm Hồng thuộc địa phận phường Yên Ninh, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Để sản xuất pháo nổ, đầu tháng 12-2023, H đặt mua nguyên liệu trên sàn giao dịch thương mại điện tử Shopee gồm: KCLO3 (Kali chlorat), S (lưu huỳnh), bột than củi, dây dẫn cháy, giấy bìa, keo 502 và giấy vệ sinh. Khi người giao hàng đến đường Quốc lộ 70 đầu ngõ rẽ vào nơi ở của H tại thôn Đ, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, H tự ra lấy. Quá trình sản xuất pháo H dùng tay tự quấn giấy thành trụ tròn rỗng ruột, lấy keo nhỏ vào mép giấy ngoài cùng để cố định vỏ quả pháo, H dùng giấy bìa cứng nên đa phần vỏ pháo sẽ chặt luôn, pháo quả nhỏ một đầu dùng giấy vệ sinh bịt kín, nhỏ keo, đợi khô là hoàn thành, pháo to dùng tay gập một phấn đầu giấy vỏ pháo, sau đó nhỏ keo để cố định. H trộn thuốc pháo theo tỷ lệ: 1kg KCLO3 + 0,5kg S + 1kg than củi. Cho thuốc pháo vào ruột quả pháo, đặt dây dẫn cháy rồi chèn giấy vệ sinh, nhỏ keo hoặc dùng tay gập giấy đầu quả pháo lại và gắn keo 502 tạo thành quả pháo nổ. Buộc dây dẫn cháy của các quả pháo lại với nhau tạo thành bánh pháo. Toàn bộ quá trình sản xuất pháo H tự học trên mạng Internet, H sản xuất pháo tại phòng riêng của mình tại nhà ông Nguyễn Mạnh T và bà Phạm Thị H (bố mẹ của H), đến ngày 14-12-2023, sau khi sản xuất pháo xong H cho vào một thùng xốp mầu trắng cất giấu tại bếp của nhà bà Đỗ Thị T (bà nội H), hiện bà T đang già yếu sống cùng gia đình H, nhà của bà T cạnh nhà H, không có người ở. Sáng ngày 15-12-2023, H điều khiển xe máy BKS 21B2-298.78 mượn của Vũ Ánh T (bạn gái H) trên xe có một thùng xốp đựng củi đi đến khu vực Đầm Hồng mục đích xem có người mua pháo thật không thì sẽ về nhà lấy pháo nổ giao cho người mua, khi đang tìm người mua thì bị Công an thành phố Yên Bái phát hiện như đã nêu trên. Việc H sản xuất, cất giấu pháo nổ mục đích để bán chỉ có H thực hiện không ai biết và tham gia cùng H.

Tại bản Kết luận giám định số: 1570/KL-KTHS ngày 16-12-2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận mẫu giám định được thu giữ tại nhà bà Đỗ Thị T là pháo nổ, tổng khối lượng: 18,4kg.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Bản Cáo trạng số: 17/CT-VKS-YB ngày 18-3-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã truy tố bị cáo: Nguyễn Ngọc H về tội Sản xuất hàng cấm, theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội Sản xuất hàng cấm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội Sản xuất hàng cấm.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách là 05 năm.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 16,3 kg pháo nổ; 01 hộp gỗ có nắp rời, kích thước (12x12x44)cm trên nắp hộp có chữ Ducadi poggioreal (r) licilia Tlalia; 01 lọ nhựa màu trắng, không có nắp, trong lọ không có gì, thân lọ có chữ 502, có dán tem màu trắng dòng chữ NPL 502 SUPEK GLUE; 36 lọ nhưa màu trắng, không có nắp, bên trong không có gì, thân lọ có chữ “Độ kết dính cao”; 01 ống nhựa có chiều dài 14cm, đường kính hai đầu 6cm; 01 ống nhựa có chiều dài 28cm, một đầu đường kính 3,4cm, đầu còn lại không được mài bằng; 01 hộp kim loại không có nắp, màu xanh kích thước (10,5x27,5x7)cm; 04 nắp hộp keo 502; 03 ống nhựa nhỏ keo 502 (vòi keo); 03 dây màu hồng có kích thước khác nhau; 04 đoạn giấy màu hồng được cắt nhỏ có kích thước khác nhau.

Trả lại cho bà Phạm Thị H 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu vàng và đen có dòng chữ TECNO POVA, kiểu máy TECNO LH7n, có số seri 106293736H001798, lắp 02 sim với số thuê bao 0355.357.371 và 0987.192.220.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

+ Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ngọc H đã thành khẩn khai nhận hành vi sản xuất 18,4kg pháo nổ nhằm mục đích để bán. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

+ Người có quyền lợi liên quan- bà Phạm Thị H: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà chiếc điện thoại mà Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo .

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của người có quyền lợi liên quan:

Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của người có quyền lợi liên quan (Vũ Ánh T) đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi liên quan (Vũ Ánh T) là phù hợp theo quy định của pháp luật.

. Về nội dung:

. Xem xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với: Biên bản khám xét, biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi liên quan, người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 12-2023 đến ngày 14-12-2023, tại nhà ông Nguyễn Mạnh T thuộc khu vực thôn Đ, xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái bị cáo Nguyễn Ngọc H đã có hành vi sản xuất trái phép 18,4kg pháo nổ.

Hành vi của Nguyễn Ngọc H đã phạm tội Sản xuất hàng cấm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Do đó, cần có hình thức xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

. Xét nhân thân của bị cáo Nguyễn Ngọc H: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo là người có sức khỏe, có khả năng điều khiển mọi hành vi hoạt động của bản thân, nhận thức rõ hành vi sản xuất pháo nổ là loại hàng hóa mà pháp luật nghiêm cấm sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng nhưng do thiếu tu dưỡng rèn luyện bản thân, muốn thu lời bất chính nên đã cố ý thực hiện tội phạm.

. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ sau: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo tự thú về hành vi phạm tội của mình.

Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo, giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành người có ích cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

. Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Đối với người có tài khoản facebook “Đao The Anh” sau đổi thành “The Anh”, “Nguyễn Duy Ngọc” và người bán nguyên liệu để sản xuất pháo, do H chỉ liên hệ qua mạng, H không biết tên, tuổi, địa chỉ. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ để điều tra là rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ông Nguyễn Mạnh T, bà Phạm Thị H và bà Đỗ Thị T, quá trình điều tra xác định ông T, bà H và bà T không biết việc sản xuất, cất giấu pháo nổ của Nguyễn Ngọc H nên Cơ quan điều tra không đề cập vấn đề xử lý đối với ông T, bà H và bà T là phù hợp.

Đối với bà Phạm Thị H, quá trình điều tra xác định khi bị cáo hỏi mượn điện thoại của bà H, bà H không biết bị cáo sử dụng điện thoại của mình vào việc phạm tội. Do đó Cơ quan điều tra không đề cập vấn đề xử lý đối với bà H là phù hợp.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 21 B2- 298.78 thu giữ của Nguyễn Ngọc H. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này của chị Vũ Ánh T. Khi chị T cho bị cáo mượn chị T không biết bị cáo sử dụng chiếc xe của mình vào việc phạm tội. Do đó Cơ quan điều tra không đề cập vấn đề xử lý đối với chị T là phù hợp.

. Về vật chứng:

+ Đối với chiếc xe mô tô BKS 21 B2- 298.78 thu giữ của Nguyễn Ngọc H. Quá trình điều tra xác định chiếc xe này của chị Vũ Ánh T. Khi chị T cho bị cáo mượn chị T không biết bị cáo sử dụng chiếc xe của mình vào việc phạm tội. Do đó Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị T là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Đối với chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu vàng và đen có dòng chữ TECNO POVA, kiểu máy TECNO LH7n, có số seri 106293736H001798, lắp 02 sim với số thuê bao 0355.357.371 và 0987.192.220 thu giữ của Nguyễn Ngọc H. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này của bà Phạm Thị H. Khi bà H cho bị cáo mượn bà H không biết bị cáo sử dụng điện thoại của mình vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bà H.

+ Đối với 01 hộp gỗ có nắp rời, kích thước (12x12x44)cm trên nắp hộp có chữ Ducadi poggioreal (r) licilia Tlalia; 01 lọ nhựa màu trắng, không có nắp, trong lọ không có gì, thân lọ có chữ 502, có dán tem màu trắng dòng chữ NPL 502 SUPEK GLUE; 36 lọ nhưa màu trắng, không có nắp, bên trong không có gì, thân lọ có chữ “Độ kết dính cao”; 01 ống nhựa có chiều dài 14cm, đường kính hai đầu 6cm; 01 ống nhựa có chiều dài 28cm, một đầu đường kính 3,4cm, đầu còn lại không được mài bằng; 01 hộp kim loại không có nắp, màu xanh kích thước (10,5x27,5x7)cm; 04 nắp hộp keo 502; 03 ống nhựa nhỏ keo 502 (vòi keo); 03 dây màu hồng có kích thước khác nhau; 04 đoạn giấy màu hồng được cắt nhỏ có kích thước khác nhau. Xét thấy có liên quan đến việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 hộp xốp kích thước (60x44,5x40,5) cm (16,3kg pháo nổ) hiện đang lưu giữ tại kho của Ban Chỉ huy quân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, xét đây là vật chứng có tính chất nguy hiểm cao nên cần giao cho Ban Chỉ huy quân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử lý tiêu hủy theo quy định.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Vể tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội: Sản xuất hàng cấm.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm r, s khoản 1 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11-4-2024).

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái giám sát và giáo dục. Gia đình bị cáo H có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Nguyễn Ngọc H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng:

Ấp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử lý vật chứng vụ án theo Biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái ngày 20-3-2024 như sau:

- Trả lại cho bà Phạm Thị H chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu vàng và đen có dòng chữ TECNO POVA, kiểu máy TECNO LH7n, có số seri 106293736H001798, lắp 02 sim với số thuê bao 0355.357.371 và 0987.192.220.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 16,3kg pháo nổ hiện đang lưu giữ tại kho của Ban Chỉ huy quân sự thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

+ 01 hộp gỗ có nắp rời, kích thước (12x12x44)cm trên nắp hộp có chữ Ducadi poggioreal (r) licilia Tlalia; 01 lọ nhựa màu trắng, không có nắp, trong lọ không có gì, thân lọ có chữ 502, có dán tem màu trắng dòng chữ NPL 502 SUPEK GLUE; 36 lọ nhưa màu trắng, không có nắp, bên trong không có gì, thân lọ có chữ “Độ kết dính cao”; 01 ống nhựa có chiều dài 14cm, đường kính hai đầu 6cm; 01 ống nhựa có chiều dài 28cm, một đầu đường kính 3,4cm, đầu còn lại không được mài bằng; 01 hộp kim loại không có nắp, màu xanh kích thước (10,5x27,5x7)cm; 04 nắp hộp keo 502; 03 ống nhựa nhỏ keo 502 (vòi keo); 03 dây màu hồng có kích thước khác nhau; 04 đoạn giấy màu hồng được cắt nhỏ có kích thước khác nhau.

(Tình trạng vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng nêu trên).

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Ngọc H phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi liên quan (Phạm Thị H) được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi liên quan (Vũ Ánh T) được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

" Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ".

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ