vanban.org

Bản án 15/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 22/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2023. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng N - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2024/HS-ST
Ngày 22/02/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Trung Thành

Ông Quách Trung Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy L - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng N, sinh ngày 25/12/1993, tại tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: Ấp 3, xã A, huyện C, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1963 (đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm 1964 (đã chết); Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ ngày 06/9/2023, chuyển tạm giam ngày 09/9/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang cho đến nay, (Bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Đỗ Thảo L, sinh năm 2000 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp O, xã L, huyện C, tỉnh T.

2. Chị Đỗ Thị Vân A, sinh năm 2007 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh T.

3. Anh Phan Văn K, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp M, xã H, huyện L, tỉnh S.

Tạm trú: Ấp 1, xã A, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Công K1 là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng tháng 7/2022, K1 đi dự tiệc ở Quận 12, Tp. Hồ Chí Minh gặp người bạn tên Sơn (không rõ họ tên, địa chỉ), K1 cùng Sơn sử dụng trái phép chất ma túy, sau đó K1 xin Sơn 02 gói ma túy gồm 01 gói chứa tinh thể màu trắng (còn gọi là “Khay”), 01 gói có 02 viên nén màu hồng (thuốc lắc), mục đích để sử dụng, K1 đem ma túy về nhà ở Ấp 3, xã A, huyện C, tỉnh T cất giấu.

Khoảng 19 giờ ngày 15/8/2022, Dương Công K1 cất giấu ma túy trên người rồi đi bộ từ nhà ra Quốc lộ 1 thì gặp Nguyễn Hoàng N, K1 rủ N đến quán The Voice ở Ấp 1, xã A, huyện C, tỉnh T hát karaoke nhưng mục đích của K1 là sử dụng trái phép chất ma túy, N đồng ý nhưng không đi cùng với K1, K1 đến quán The Voice trước và vào phòng hát số 4, lúc này có Nguyễn Đỗ Thảo L, sinh ngày 30/9/2000, thường trú ấp Ô Chính A, xã Lương Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh là nhân viên quán massage đến phục vụ, K1 đem 02 gói ma túy để trên bàn bằng kính rồi lấy 01 phần viên thuốc lắc để sử dụng, còn 01 phần viên thuốc lắc K1 đưa cho L sử dụng. Sau đó, K1 yêu cầu nhân viên quán lấy cho K1 01 cái dĩa bằng sành nhưng không nói để làm gì, K1 đổ một phần ma túy (khay) bên trong gói nylon ra tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng để trong dĩa sành rồi lấy thẻ sim điện thoại và thẻ căn cước công dân tên Nguyễn Minh D, sinh năm 2003, thường trú ấp Trường Thọ, xã Trường Xuân, huyện Thới Lai, Tp. Cần Thơ có sẵn cà nhuyễn ma túy, số ma túy (khay) còn lại trong gói nylon K1 để trên bàn cùng với gói nylon chứa 01 viên thuốc lắc.

Sau khi cà nhuyễn ma túy, K1 dùng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn, cố định 02 đầu bằng vỏ đầu lọc thuốc lá rồi cùng L sử dụng, lúc này N đến, K1 chỉ ma túy trên bàn rồi rủ N cùng sử dụng nên N sử dụng ma túy (khay) trong dĩa sành. Sau đó, Đỗ Thị Vân A, sinh ngày 30/5/2007 thường trú Ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh T là nhân viên quán The Voice đem nước uống vào phòng thì K1 kêu N mời Vân A cùng sử dụng ma túy, N liền lấy 01 phần viên thuốc lắc đưa cho Vân A sử dụng nhưng Vân A không sử dụng mà cất vào phía sau ốp lưng điện thoại hiệu Iphone K1 và N không biết. Sau đó, N trực tiếp cầm dĩa sành có ma túy (khay) để Vân A sử dụng ma túy. Lúc này trên bàn kính còn 01 gói nylon chứa một phần của viên thuốc lắc và 01 gói nylon chứa số ma túy (khay) còn lại sau khi K1 lấy ra sử dụng cùng với L, N và Vân A.

Đến khoảng 21 giờ 10 phút ngày 15/8/2022, Công an huyện Cái Bè kiểm tra phòng số 4 thì K1 đẩy 02 gói nylon chứa ma túy rơi xuống bậc thềm ngay chỗ K1 ngồi, còn L thì bỏ chạy. Qua kiểm tra lực lượng Công an phát hiện 02 gói ma túy ngay vị trí K1 ngồi và một ít ma túy trong dĩa sành để ở trên bàn kính, K1 trình bày ma túy là của K1 đem đến để cùng với L, N và Vân A sử dụng, đang sử dụng thì bị kiểm tra, phát hiện nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Theo Bản kết luận giám định số 86/KL-KTHS ngày 18/8/2022, kết luận về đối tượng giám định như sau:

Gói 1 (ký hiệu 1): Các mẫu tinh thể màu trắng và mẫu 01 phần viên nén màu hồng gửi giám định đều là ma túy, có khối lượng 1,2273 gam (trong đó: mẫu ký hiệu M1.1 có khối lượng 1,0721 gam, loại Methamphetamine và Ketamine; mẫu ký hiệu M1.2 có khối lượng 0,1552 gam, loại MDMA).

Gói 2 (ký hiệu 2): Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2831 gam, loại Methemphetamine và Ketamine.

Gói 3 (ký hiệu 3): Mẫu một phần viên nén màu hồng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1927 gam, loại MDMA.

Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu ký hiệu M1.1 còn lại sau giám định có khối lượng 0,9794 gam được niêm phong trong một bì thư ký hiệu vụ số 86/1 ghi ngày 18/8/2022; mẫu ký hiệu M2 còn lại sau giám định có khối lượng 0,2269 gam được niêm phong trong một bì thư ký hiệu vụ số 86/2 ghi ngày 18/8/2022. Riêng mẫu ký hiệu M1.2 và M3 đã sử dụng hết trong quá trình giám định, hoàn lại bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 86/3 ghi ngày 18/8/2022.

Vật chứng thu giữ:

01 gói nylon dán kín chứa chất nghi vấn là ma túy và 01 gói nylon dán kín chứa 01 phần viên nén nghi vấn là ma túy tại bậc thềm ngay vị trí K1 ngồi, 02 gói nylon được cho vào bao thư niêm phong ký hiệu 1.

01 dĩa sành màu trắng bên trong có 01 căn cước công dân tên Nguyễn Minh D (2003), 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn cố định bằng 02 vỏ đầu lọc thuốc lá và chất tinh thể nghi vấn là ma túy. Chất tinh thể nghi vấn là ma túy được cho vào gói nylon hàn kín để vào bao thư niêm phong ghi ký hiệu 2.

01 phần viên nén bên trong điện thoại hiệu Iphone có ốp lưng màu tím nghi vấn là ma túy. Một phần viên nén cho vào bao thư niêm phong ghi ký hiệu 3.

01 thẻ sim điện thoại Mobiphone, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn cố định bằng hai đầu lọc thuốc lá được cho vào bao thư niêm phong, ghi ký hiệu 4.

01 điện thoại di động hiệu Iphone được cho vào bao thư niêm phong, ghi ký hiệu 5.

02 điện thoại di động hiệu Nokia được niêm phong trong bao thư, ghi ký hiệu 6.

Ngày 07/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Cái Bè tuyên phạt Dương Công K1 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, đồng thời xử lý toàn bộ vật chứng đã thu giữ trong vụ án. Đối với Nguyễn Hoàng N sau khi bị khởi tố bị cáo đã bỏ địa phương đi, đến ngày 06/9/2023 N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè đầu thú và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Đỗ Thị Vân A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy lại MDMA có khối lượng 0,1927 gam và sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, Vân A chưa đủ 16 tuổi, Dương Công K1 và Nguyễn Hoàng N không biết Vân A tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Vân A, K1 và N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Công an huyện Cái Bè đã ra quyết định phạt cảnh cáo đối với Vân A.

Nguyễn Đỗ Thảo L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Cái Bè đã ra Quyết định xử phạt hành chính.

Đối với Sơn là người cho ma túy K1 nhưng K1 không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không xác định được sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Chị Nguyễn Thị Kiều Liên, sinh năm 1988, thường trú ấp 4, xã An Hữu, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang là người đứng tên giấy phép kinh doanh quán karaoke The Voice nhưng chị đã cho anh Phan Văn K, sinh năm 1987, thường trú Ấp M, xã H, huyện L, tỉnh S thuê lại để kinh doanh, tuy nhiên anh Khiêm không biết việc K1 thuê phòng hát để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự.

Tại Cáo trạng số 106/CT-VKSCB ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tuy tố Nguyễn Hoàng N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, xử phạt từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng vắng mặt, tuy nhiên trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng N thừa nhận: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 15/8/2022, tại phòng số 4, quán karaoke The Voice thuộc Ấp 1, xã A, huyện C, tỉnh T, Nguyễn Hoàng N cùng với Dương Công K1 cung cấp ma túy, tổ chức cho Đỗ Thị Vân A, sinh ngày 30/5/2007 là người dưới 16 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Vật chứng thu giữ là ma túy có khối lượng là 1,42 gam, trong đó có loại Methamphetamine và Ketamine có khối lượng 1,0721 gam, loại MDMA có khối lượng 0,3479 gam.

Lời khai nhận trên của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thực nghiệm điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng với các tài liệu, chứng cứ và vật chứng có trong hồ sơ vụ án. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè truy tố Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, bị cáo N là người có đủ khả năng nhận thức pháp luật, biết được hành vi cung cấp ma túy, tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, bị cáo cùng với Dương Công K1 cung cấp ma túy, tổ chức cho Vân A là người dưới 16 tuổi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị bắt quả tang. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo N có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được xử lý toàn bộ tại Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 07/8/2023, của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 thẻ căn cước công dân tên Nguyễn Minh D, sinh năm 2003, thường trú ấp Trường Thọ, xã Trường Xuân, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng Duy đã bỏ địa phương đi nên Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được.

Đối với Dương Công K1 có hành vi cung cấp ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã bị Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xử phạt 07 năm 06 tháng tù tại Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 07/8/2023.

Đỗ Thị Vân A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại MDMA có khối lượng 0,1927 gam và sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, Vân A chưa đủ 16 tuổi, Dương Công K1 và Nguyễn Hoàng N không biết Vân A tàng trữ trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vân A, K1 và N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Công an huyện Cái Bè đã ra quyết định phạt cảnh cáo đối với Vân A.

Nguyễn Đỗ Thảo L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Cái Bè đã ra Quyết định xử phạt hành chính.

Đối với Sơn là người cho ma túy K1, K1 không biết họ tên, địa chỉ, Cơ quan điều tra không xác định được đề nghị tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Chị Nguyễn Thị Kiều Liên, sinh năm 1988, thường trú ấp 4, xã An Hữu, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang là người đứng tên giấy phép kinh doanh quán karaoke The Voice nhưng chị đã cho anh Phan Văn K, sinh năm 1987, thường trú Ấp M, xã H, huyện L, tỉnh S thuê lại để kinh doanh, tuy nhiên anh Khiêm không biết việc K1 thuê phòng hát để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.

Bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 , Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2023.

2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ