- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Quốc P và Huỳnh Thành Lê V1 - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1. Căn cứ điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 15/2022/HS-ST Ngày: 17-01-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Thanh Giàu
2. Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 505/2021/HS-ST ngày 01 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 706/2022/QĐXXST-HS ngày 04/01/2022 đối với bị cáo:
1/ Lò Quốc P; Giới tính: Nam; Sinh 1988, tại Thành phố H; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: Tỉnh Lộ A, phường B, thành phố T, Thành phố H; Chỗ ở: Tỉnh Lộ A, phường B, thành phố T, Thành phố H; Quốc tịch: VN; Dân tộc: T; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Lò Quốc T và bà Lê Thị H; Có vợ tên: Đoàn Thị L; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con út; Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/4/2015, bị Tòa án nhân dân quận T xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/10/2015, đã đóng án phí ngày 27/7/2015. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2021 (có mặt).
2/ Huỳnh Thành Lê V1; Giới tính: Nam; Sinh 1988, tại Thành phố H; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: Đường B, phường C, thành phố T, Thành phố H; Chỗ ở: Đường B, phường C, thành phố T, Thành phố H; Quốc tịch: VN; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Huỳnh Thành T1và bà Hồ Thị Lệ T2; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con út; Tiền án: Ngày 24/12/2013, bị Tòa án nhân dân quận T xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt ngày 12/8/2018, nộp án phí và thi hành Dân sự ngày 17/3/2014; Tiền sự: Không; Đã tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/4/2021 (có mặt).
Bị hại: Bà Võ Thị Út B3
Địa chỉ: Đường D phường T, thành phố T, Thành phố H (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị Kim T4
Địa chỉ: đường N, khu phố N, thành phố D, tỉnh D1 (vắng mặt).
- Ông Hồ Thanh L, sinh năm 1995.
Địa chỉ: đường N1, thị trấn C, huyện C, Thành phố H (vắng mặt).
NỘI DUNGVỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy, Huỳnh Thành Lê V1, sinh năm 1988 rủ Lò Quốc P, sinh năm 1988 sử dụng xe mô tô đi vòng quanh địa bàn thành phố Thủ Đức tìm người sơ hở thì trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài, P đồng ý. Thực hiện ý định trên, lúc 19 giờ ngày 21/4/2021, P điều khiển xe mô tô, biển số 59Y-32686 chở V1 đi vào chợ Đầu mối nông sản thực phẩm Thủ Đức, thuộc phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tìm người sơ hở để trộm cắp tài sản. Trong lúc cả 02 đi đến trước khách sạn N, địa chỉ: Đường D, phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, V1 nhìn thấy chị Võ Thị Út B3 sinh năm 1980 đang ngồi trên xe mô tô sát lề đường, trên cổ chị B3 đeo một sợi dây chuyền vàng nên V1 nói P giật sợi giây chuyền của chị B3. P đồng ý và điều khiển xe mô tô quay lại, áp sát xe của chị B3, V1 ngồi sau dùng tay trái giật được sợi dây chuyền của chị B3 rồi chuyển qua tay phải sau đó P tăng ga xe mô tô chạy thoát. Đến khoảng 08 giờ ngày 22/4/2021, P điều khiển xe mô tô chở V1 đến tiệm vàng K địa chỉ đường N, khu phố N, phường D, thành phố D1, tỉnh B. Tại đây, V1 đã bán sợ dây chuyền của chị B3 cho chị Phan Thị Kim T4, sinh năm 1997, nhân viên của cửa hàng với giá 4.000.000 đồng và chị T4 đã đem sợi dây chuyền trên đi nấu. Sau khi bán dây chuyền, P chở V1 đến khu vực ngã tư An Sương, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy của một người thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng về cùng nhau sử dụng, số tiền còn lại V1 chia cho P 2.000.000 đồng sau đó cả 02 sử dụng vào việc chơi game bắn cá và tiêu xài hết. Đến 18 giờ ngày 23/4/2021, trong lúc P điều khiển xe mô tô biển số 59Y-32686 chở V đi đến gần cầu vượt Gò Dưa, phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức thì bị Công an phường Tam Bình nghi vấn nên mời cả hai về trụ sở làm việc. Qua điều tra, Lò Quốc P và Huỳnh Thành Lê V1 đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật sợi dây chuyền của chị Võ Thị Út B3, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong vụ án.
Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng 18k, dạng xoắn trị giá 6.000.000 đồng.
Vật chứng của vụ án:
+ 01 sợi dây chuyền kim loại xoắn màu vàng (chưa thu hồi được).
+ 01 thanh kim loại hình chữ L dài 10cm có băng keo đen quấn quanh một đầu tròn, một đầu dẹp.
+ 01 giỏ sách màu nâu hiệu Jeep.
+ 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu trắng A21S.
+ 01 xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ đen biển số 59Y-326.86, SM: 5C6J049748; SK: RLCS5C6J0.
Qua xác minh xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ đen SM: 5C6J049748; SK: RLCS5C6J0 không xác định được chủ sở hữu. P khai nhận đã mượn chiếc xe trên của 01 người bạn tên Tài (không rõ lai lịch) tại ngã tư An Sương, Quận 12 để sử dụng vào việc cướp giật.
Qua xác minh biển số 59Y-326.86 được cấp cho xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha do anh Hồ Thanh L đứng tên chủ sở hữu, khoảng tháng 04/2014 anh Liêm đã bị mất chiếc xe trên tại khu phố 1, thị trấn C, huyện C và đã trình báo việc mất trộm đến Công an huyện C. Cơ quan cảnh sát Điều tra đã thông báo vụ việc đến Công an huyện C biết để xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Võ Thị Út B3 yêu cầu bồi thường 5.000.000 đồng, P và V1 chưa bồi thường
- Đối với chị Phan Thị Kim T4 khi mua sợi dây chuyền của P và V, chị T4 không biết là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý.
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho P và V1, do không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
Cáo trạng số 406/CT-VKSTPTĐ ngày 23/11/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Lò Quốc P về Tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Truy tố Huỳnh Thành Lê V1 về Tội “Cướp giật tài sản”, theo quy định tại điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Lò Quốc P từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng, Huỳnh Thành Lê V1 từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù;
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng nêu là đúng và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt và đồng ý bồi thường 5.000.000 triệu đồng cho bị hại ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an thành phố Thủ Đức, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo Lò Quốc P, Huỳnh Thành Lê V1 phù hợp với nhau và phù hợp với: Nội dung Biên bản tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm lập ngày 23/4/2021 tại trụ sở Công an phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh; Lời khai của người bị hại Võ Thị Út B3; Biên bản xác định địa điểm lập ngày 23/4/2021; Biên bản kiểm tra Video lập ngày 24/4/2021; Biên bản nhận dạng, Phiếu khảo sát giá; Kết luận định giá tài sản số 165-KV3/KLĐG-HĐĐGTS ngày 23/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản Uỷ ban nhân dân thành phố Thủ Đức cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 21/4/2021, Lò Quốc P điều khiển xe mô tô biển số 59Y2-32686 chở Huỳnh Thành Lê V1 ngồi sau đến trước khách sạn Như Ý, địa chỉ số C7, Đường D, khu phố 5, phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì Vân phát hiện ra chị B3 đeo một sợi dây chuyền vàng nên Vân nói với Phương giật sợi dây chuyền của chị B3, Phương đồng ý và điều khiển xe mô tô quay lại, áp sát xe của chị B3 để Vân ngồi sau dùng tay trái công khai, bất ngờ giật sợi dây chuyền trị giá 6.000.000 đồng của chị B3, rồi Phương tăng tốc độ xe chạy thoát. Hành vi nêu trên của các bị cáo Lò Quốc P, Huỳnh Thành Lê V1 đã đủ yếu tố cấu thành Tội “Cướp giật tài sản” trong trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm được quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và Điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo Lò Quốc P, Huỳnh Thành Lê V1 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Các bị cáo là đối tượng hình sự đã từng bị Tòa án xử phạt tù về những tội khác nhau; Trong đó, Lò Quốc P bị Tòa án nhân dân (quận Thủ Đức cũ), nay là thành phố Thủ Đức xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/10/2015, Huỳnh Thành Lê V1 bị Tòa án nhân dân (quận Thủ Đức cũ), nay là thành phố Thủ Đức xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt ngày 12/8/2018 chưa được xóa án tích thì đến ngày 21/4/2021 bị cáo Huỳnh Thành Lê V1 lại tiếp tục tái phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Sau khi được tha tù về thì các bị cáo không tu dưỡng, sinh sống lành mạnh, mà đua đòi ăn chơi và lười lao động nên đi sâu vào con đường nghiện ngập chất ma túy và phạm tội chiếm đoạt tài sản. Do cần tiền để thỏa mãn việc nghiện ma túy. Trong vụ án này, bị cáo V1 là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Phương tham gia việc phạm tội, bị cáo P là đồng phạm tích cực trong vai trò điều khiển xe giúp sức, tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo V1 ngồi sau trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Hành vi sử dụng xe gắn máy làm phương tiện phóng nhanh để cướp giật dây chuyền trị giá 6.000.000 đồng do bị cáo Lò Quốc P và Huỳnh Thành Lê V1 thực hiện là có tính cố ý cao, thực hiện một cách táo bạo, nguy hiểm, đã không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tham gia giao thông trên đường, góp phần gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Tuy nhiên cũng xét tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn có thái độ ăn năn hối lỗi Do đó, khi quyết định hình phạt:
Đối với bị cáo Lò Quốc P căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, cần áp dụng: Điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp có đồng phạm, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đối với bị cáo Huỳnh Thành Lê V1 căn cứ Điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp có đồng phạm, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Để có hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, vai trò trong đồng phạm, nhân thân của các bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân tốt về sau.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về bồi thường dân sự: Tại Cơ quan Điều tra và trong quá trình chuẩn bị xét xử bị hại có đơn yêu cầu các bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại 5.000.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đã đồng ý bồi thường 5.000.000 đồng cho bị hại ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Xét thỏa thuận là hoàn tự nguyện và không trái pháp luật nên công nhận.
- Đối với chị Phan Thị Kim T4 khi mua sợi dây chuyền của P và V1, chị T4 không biết là tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không xử lý trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho P và V, do không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sẽ xử lý sau.
. Về xử lý vật chứng:
+ 01 thanh kim loại hình chữ L dài 10cm có băng keo đen quấn quanh một đầu tròn, một đầu dẹp không còn giá trị sử dụng, áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu trắng A21S; 01 giỏ sách màu nâu hiệu Jeep (đã qua sử dụng) thu giữ của Lò Quốc P, Huỳnh Thành Lê V1, là tư liệu sinh hoạt và không liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nghĩ nên áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, giao trả 01 giỏ sách màu nâu hiệu Jeep (đã qua sử dụng) cho Huỳnh Thành Lê V1, giao trả 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu trắng A21S cho Lò Quốc P.
+ Đối với xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ đen SM: 5C6J049748; SK: RLCS5C6J0 không xác định được chủ sở hữu. Phương khai nhận đã mượn chiếc xe trên của 01 người bạn tên Tài (không rõ lai lịch) tại ngã tư An Sương, Quận 12 để sử dụng vào việc cướp giật. Nghĩ nên giao xe trên cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo xử lý đối với tài sản vắng chủ trong thời hạn 4 tháng, nếu hết thời hạn thông báo mà không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
+ Giao biển số 59Y-326.86 cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức để giao lại cho Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi xử lý trong vụ việc mất trộm xe mô tô hiệu Honda Wave Alpha do anh Hồ Thanh L đứng tên chủ sở hữu vào tháng 04/2014 tại khu phố 1, thị trấn Củ Chi, huyện Củ Chi.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố Lò Quốc P phạm Tội “Cướp giật tài sản”;
1.1. Căn cứ điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố Huỳnh Thành Lê V1 phạm Tội “Cướp giật tài sản”;
2. Áp dụng điểm d Khoản 2 Điều 171, Điều 17 và Điều 58, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi sung năm 2017. Xử phạt: Lò Quốc P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2021.
2.1 Áp dụng điểm d, i Khoản 2 Điều 171, Điều 17 và Điều 58, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Huỳnh Thành Lê V1 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2021.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận Huỳnh Thành Lê V1, Lò Quốc P có trách nhiệm liên đới bồi thường 5.000.000 (năm triệu) đồng cho chị Võ Thị Út B3 ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Huỳnh Thành Lê V1, Lò Quốc P chậm trả khoản tiền bồi thường thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Giao trả cho Lò Quốc P: 01 điện thoại di động hiệu SamSung màu trắng A21S. Giao trả cho Huỳnh Thành Lê V1: 01 giỏ sách màu nâu hiệu Jeep. Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại hình chữ L dài 10cm có băng keo đen quấn quanh một đầu tròn, một đầu dẹp.
Giao xe mô tô hiệu Sirius màu đỏ đen SM: 5C6J049748; SK: RLCS5C6J0 cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo xử lý đối với tài sản vắng chủ trong thời hạn 4 tháng, nếu hết thời hạn thông báo mà không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Giao biển số 59Y-326.86 cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức giao lại cho Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Củ Chi.
(Tài sản giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức làm thủ tục thông báo xử lý đối với tài sản vắng chủ, tịch thu tiêu hủy, giao trả được ghi trong Lệnh nhập kho vật chứng số 225 ngày 03/5/2021 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Đức)
5. Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Huỳnh Thành Lê V1, Lò Quốc P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 125.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. -
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, được quyền kháng cáo bản án. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận :
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- Tòa án NDTP.HCM;
- Viện KSND TP.HCM;
- Viện KSND thành phố Thủ Đức;
- Công an thành phố Thủ Đức;
- Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Lưu.
Bùi Viết Nghiêm CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Viết Nghiêm
| Nơi nhận : - Tòa án NDTP.HCM; - Viện KSND TP.HCM; - Viện KSND thành phố Thủ Đức; - Công an thành phố Thủ Đức; - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu. - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Viết Nghiêm |