vanban.org

Bản án 15/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 23/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Duy L phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Duy L: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22-9-2021 (ngày bắt tạm giữ bị cáo). Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Phạm Duy L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02 màu đen, có ốp nhựa cứng, có số seri R58R23Q2WMF, số IMEI 351389228266… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy L - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Duy L phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2022/HS-ST
Ngày: 23-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Kim Cương; Nghề nghiệp: Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái.

2. Bà Cao Thị Chuyên; Nghề nghiệp: Chủ tịch Hội LHPN phường Nguyễn Phúc, thành phố Yên Bái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Hoàng Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 04/2022/HSST ngày 12-01-2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 09-02-2022, đối với bị cáo:

Phạm Duy L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24-6-2000, tại Yên Bái; Nơi cư trú: Tổ 2, phường T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Quốc H, sinh năm 1964; con bà: Phạm Thị T, sinh năm 1967; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22-09-2021, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Cháu Trần Quỳnh Tr, sinh ngày 09-01-2008; Nơi cư trú: Thôn H, xã L, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Chị Lường Thị H1, sinh năm 1986; Có mặt.

+ Anh Trần Đức A, sinh năm 1983; Vắng mặt.

Nơi cư trú: Thôn H, xã L, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. (Anh Trần Đức A ủy quyền cho chị Lường Thị H1 tham gia tố tụng)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Lương Thị Ngọc Phương, sinh năm 1988 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Yên Bái. Có mặt

- Đại diện trường THCS Tuy Lộc, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái: Bà Lê Thị Thanh H2, sinh năm 1978. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người làm chứng:

+ Cháu Lý Thu H3, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Tổ 6, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu H3 là chị Đằng Thị H4, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ 6, thị trấn Y, huyện B, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

+ Ông Phạm Quốc H, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Tổ 2, phường T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

+ Bà Phạm Thị T, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Tổ 2, phường T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

+ Anh Nguyễn Đình Th, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện L, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 21-9-2021, Trần Quỳnh Tr đi chơi và ăn tối cùng nhóm bạn tại khu vực km5 thành phố Yên Bái. Đến khoảng 23 giờ, do đã uống nhiều rượu nên Tr bị say không đi lại được, do đó Lý Thu H3 cùng Tạ Duy Hi và Nguyễn Đình Th đưa Tr về nhà của H3 ở tổ 6, thị trấn Yên Bình, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên khi về đến nhà, mẹ của H3 là chị Đằng Thị H4 không đồng ý cho Tr ngủ nhờ nên H3 bảo Tr ở bên ngoài cổng đợi sẽ có người đến đón về phòng trọ của bạn H3 để ngủ. Sau đó H3 gọi điện qua ứng dụng Messenger cho Phạm Duy L, nhờ L đưa Tr đến phòng trọ bạn của H3 tại nhà trọ Hoa Cau và L đồng ý.

Đến khoảng 00 giờ 00’ ngày 22-9-2021, L điều khiển xe mô tô đến đón Tr. Tr lúc này bị say rượu nên ngồi sau gục mặt vào lưng của L và không ý thức được L đang đi đâu. Do nảy sinh ý định muốn quan hệ tình dục với Tr nên L đã không đưa Tr về nhà trọ Hoa Cau như H3 đã nhờ mà gọi điện cho bố đẻ là ông Phạm Quốc H xin cho bạn về nhà ngủ nhờ và ông Hùng đồng ý. Về đến nhà, mẹ đẻ của L là bà Phạm Thị T ra mở cửa. Do Tr không thể tự đi được nên L đã cõng Tr vào phòng ngủ của mình và đặt Tr nằm xuống giường, còn L sang ngủ ở phòng bên cạnh. Đến khoảng 01 giờ, khi mọi người trong nhà đã đi ngủ L đi sang phòng Tr đang nằm và chốt cửa lại. L ngồi xuống giường rồi vòng tay qua người ôm hôn Tr, sau đó L dùng tay luồn vào bên trong áo sờ ngực của Tr rồi sờ xuống âm hộ của Tr. L cởi quần dài, quần lót của Tr đang mặc ra rồi tự cởi quần của mình. L nằm úp người lên người Tr rồi dùng tay đưa dương vật đang cương cứng của mình vào âm đạo của Tr và thực hiện hành vi giao cấu, lúc này Tr vẫn bị say rượu nên không có phản ứng gì. L thực hiện hành vi giao cấu với Tr được khoảng 5-7 phút thì xuất tinh vào âm đạo của Tr. Sau đó Tr tỉnh dậy và tự mặc quần của mình. Đến khoảng hơn 01 giờ, Nguyễn Đình Th đến nhà L đón Tr đưa về phòng trọ của Mùa Thị C. Cùng ngày, Tr đến cơ quan điều tra trình báo sự việc. Tại cơ quan điều tra, Phạm Duy L đã khai nhận tòa bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại bản kết luận giám định pháp y về tình dục số: 18/TD ngày 29-9-2021 của trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Yên Bái kết luận:

- Trên cơ thể và bộ phận sinh dục ngoài không có dấu vết tổn thương, niêm mạc môi bé có vết trợt nông không có khả năng để sẹo hay biến đổi sắc tố, nên không xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể.

- Trong dịch âm đạo thấy có hình ảnh tinh trùng.

- Màng trinh: rách cũ tại vị trí 9 giờ; rách mới ở vị trí 3 giờ và vị trí 7 giờ.

- Hiện tại không có thai.

Tại bản kết luận giám định số: 7425/C09-TT3 ngày 29-10-2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

- Trong mẫu ghi thu dịch âm đạo của Trần Quỳnh Tr gửi giám định có tinh trùng của Phạm Duy L.

Cáo trạng số: 04/CT-VKSTP ngày 11-01-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Phạm Duy L về tội: “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Duy L phạm tội: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi; Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1 khoản 2 khoản Điều 51; xử phạt bị cáo Phạm Duy L: 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù; về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đều nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo Phạm Duy L;

Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 01 giờ 00’ ngày 22-9-2021 tại phòng ngủ của bị cáo thuộc tổ 2, phường T, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của cháu Trần Quỳnh Tr, Phạm Duy L đã có hành vi giao cấu trái với ý muốn của cháu Tr khi cháu Tr chưa đủ 14 tuổi (13 tuổi 08 tháng 13 ngày). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em dưới 16 tuổi được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và gây dư luận xấu trong xã hội. Do đó cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Xét nhân thân của bị cáo: Bị cáo Phạm Duy L là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi giao cấu trái với ý muốn của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Thể hiện sự coi thường pháp luật, ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Do đó cần có mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại, người đại diện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Đối với các hành vi và người liên quan khác:

- Đối ông Phạm Quốc H và bà Phạm Thị T không biết việc bị cáo L có hành vi giao cấu với cháu Tr nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

- Đối với Trần Mạnh T1 là người đã có hành vi giao cấu với cháu Tr vào thời điểm cuối tháng 6-2021. Xét thấy, hành vi giao cấu với cháu Tr của T1 là có sự đồng thuận của cháu Tr, tại thời điểm đó cháu Tr đã hơn 13 tuổi và T1 chưa đủ 18 tuổi nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Duy L đã nhờ ông Phạm Quốc H thay mặt bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đồng. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02 màu đen, có ốp nhựa cứng, có số seri R58R23Q2WMF, số IMEI 351389228266252 và 352682488266254, có lắp sim thuê bao số 0366653485. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của bị cáo Phạm Duy L, không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Căn cứ khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Duy L phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Duy L: 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22-9-2021 (ngày bắt tạm giữ bị cáo).

3. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo Phạm Duy L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A02 màu đen, có ốp nhựa cứng, có số seri R58R23Q2WMF, số IMEI 351389228266252 và 352682488266254, có lắp sim thuê bao số 0366653485.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Duy L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ