vanban.org

Bản án 15/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phước Long, tỉnh Bình Phước Tuyên án 20/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Căn cứ vào điểm khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hồ Bảo D (L), Phạm Văn T (Q) và Nguyễn Gia B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. 1. Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58, 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Bảo D và đồng phạm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ vào điểm khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ PHƯỚC LONG
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2019/HS-ST
Ngày 20 tháng 3 năm 2019.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thị Ngọc Mai

Ông Trần Đức Vũ

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Ngô Văn Bạo - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án Nhân dân thị xã Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2019/TLST - HS ngày 21 tháng 02 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 16/2019/QĐXXST – HS ngày 08 tháng 03 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Hồ Bảo D (Tên gọi khác: “L”), sinh năm: 19/03/1995; tại: Tây Ninh; HKTT: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; Cha: Hồ Văn D, sinh năm 1966; Mẹ: Đặng Thị H, sinh năm 1971; Bị cáo có 01 em trai, sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 21 tháng 11 năm 2018 đến ngày 01/02/2019 được Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long áp dụng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh.

2. Họ và tên: Phạm Văn T (Tên gọi khác: Q), Sinh năm: 1991; tại: Tây Ninh; HKTT: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ làm cửa sắt; Trình độ học vấn: 7/12; Cha: Phạm Văn V, sinh năm 1964; Mẹ: Trần Thị P, sinh năm 1963; Bị cáo có 02 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 21 tháng 11 năm 2018 đến ngày 01/02/2019 được Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long áp dụng biện pháp cho gia đình bảo lĩnh.

3. Họ và tên: Nguyễn Gia B, sinh năm: 27/02/2001;Tại: Tây Ninh; HKTT: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Cha: Nguyễn Vĩnh S, sinh năm 1974; Mẹ: Trần Thị L, sinh năm 1974; Bị cáo có 01 em trai, sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.

Người giám hộ cho bị cáo Nguyễn Gia B là ông Nguyễn Vĩnh S.(có mặt)

HKTT: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Người bào chửa cho bị cáo Nguyễn Gia B là ông Nguyễn Ghi K – Trợ giúp Viện pháp lý tỉnh Bình Phước. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1980. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Người làm chứng: Ông Lê Cao N, simh năm 1980. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 14/11/2018, Hồ Bảo D sử dụng điện thoại di động lên mạng “Zalo” và có kết bạn với với một đối tượng tên “LL” (chưa rõ lai lịch) ở Bình Phước. Sau đó đối tượng này hỏi mua 100 bịch pháo bi thì D nhắn tin đồng ý và bán với giá 30.000.000 đồng, rồi cả hai hẹn mua bán pháo tại khu vực thị xã Phước Long, Bình Phước. Sau đó D có gọi điện thoại cho Phạm Văn T và Nguyễn Gia B để bàn việc qua biên giới Campuchia mua pháo về Việt Nam bán lại kiếm tiền tiêu xài.

Đến khoảng 07 giờ ngày 21/11/2018, D đến nhà B và đưa cho B số tiền 9.000.000đ để đi mua pháo. Sau đó B điều khiển xe mô tô hiệu Ware màu xanh (không rõ biển số) qua lãnh thổ Campuchia gặp 01 người phụ nữ Campuchia (không rõ lai lịch) mua 80 bịch pháo bi (gồm 40 bịch pháo bi nhỏ và 40 bịch pháo bi lớn) trị giá 9.000.000đ. Trong lúc B đi mua pháo thì D đi về và đưa cho T số tiền 1.000.000đ đi mua 03 cái ba lô để đựng pháo. Sau khi lấy tiền T đi đến chợ xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh mua 03 cái ba lô trị giá 600.000đ rồi đem đến nhà mẹ của B tại xã B, huyện T, Tây Ninh cất giấu.

Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, D đến nhà B (lúc này B đi mua pháo về để trong 02 bao tải xác rắn) rồi sử dụng xe mô tô của gia đình chở 02 bao chứa pháo bi trên lên nhà mẹ của B. Khi đến nơi D điện thoại cho T đến và cùng T cho pháo vào trong 03 cái ba lô. Khoảng 15 phút sau B đem theo 01 bao tải (xác rắn, màu trắng) bên trong đựng 20 bịch pháo bi (gồm 10 bịch pháo lớn và 10 bịch pháo nhỏ) do D đã mua trước đó đến. D điện thoại cho Lê Đại N, tài xế xe ô tô (hiệu TOYOTA ALTIS biển số 70A-05120) mà D đã thuê trước đó chở qua khu vực thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. Khi N đến thì D, T và B cho 03 ba lô và 01 bao tải xác rắn tổng cộng 100 bịch pháo bi (gồm: 50 bịch pháo bi lớn và 50 bịch pháo bi nhỏ) vào cốp sau của xe ô tô. Sau đó N điều khiển xe ô tô chở D, T, B cùng số pháo trên qua Trung tâm thương mại thuộc phường Long Phước, thị xã Phước Long, Bình Phước để bán. Khi đến nơi D điện thoại cho đối tượng tên “LL” để giao pháo thì có 01 thanh niên (không rõ lai lịch) đi xe mô tô ra đón và dẫn vào đường đất đỏ (thuộc khu phố I, phường L, thị xã P, Bình Phước) thì bị lực lượng Công an thị xã Phước Long kết hợp với Công an phường L phát hiện, tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang.

Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phước Long đã thu giữ:

- 03 cái ba lô (kích thước 43cm x 57cm) (trong đó có 02 cái ba lô màu đỏ đen và 01 cái ba lô màu xanh đen) và 01 bao tải xác rắn màu trắng (kích thước 56cm x 89cm).

- 100 bịch nylon chứa pháo bi dạng hình tròn (đường kính 2cm đến 2,7cm), nhiều màu sắc, vỏ B nhựa, trên đầu có gắn ngòi nổ là sợi dây màu xanh. Gồm 50 bịch pháo bi nhỏ và 50 bịch pháo bi lớn.

- 03 điện thoại di động gồm: 01 hiệu Oppo màu hồng vàng; 01 hiệu Oppo màu đen và 01 hiệu Samsung J6+ màu đen. Tại bản kết luận giám định số 190/C09B ngày 23/11/2018 của Viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- 50 túi nylon chứa các vật hình cầu vỏ B nhựa (hình dạng giống quả bóng) đường kính 2,7cm có màu sắc khác nhau, trên đầu có gắn ngòi nổ là sợi dây màu xanh gửi giám định đều là pháo nổ, khi đốt phát ra tiếng nổ lớn.

- 50 túi nylon chứa các vật hình cầu vỏ B nhựa (dạng giống quả bóng) đường kính 2cm có màu sắc khác nhau, trên đầu có gắn ngòi nổ là sợi dây màu xanh gửi giám định đều là pháo nổ, khi đốt phát ra tiếng nổ lớn.

- Tổng khối lượng là 35kg (ba mươi lăm kilôgam). Vật chứng vụ án: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy:

- Số pháo đã thu giữ trọng lượng là: 35kg và 03 cái ba lô, 02 bao xác rắn.

- Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước: 03 điện thoại di động (01 hiệu Oppo màu hồng vàng; 01 hiệu Oppo màu đen và 01 hiệu Samsung J6+ màu đen).

Còn 01 xe ô tô hiệu Toyota Altis loại 04 chỗ màu nâu vàng, biển số: 70A-051.20 là của bà Nguyễn Thanh T (do Lê Đại N làm tài xế chạy dịch vụ). Khi chở D, B và T từ Tây Ninh qua thị xã Phước Long thì N và T không biết các đối tượng trên thuê xe với mục đích chở pháo đi bán. Ngày 10/12/2018 Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phước Long đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thanh T.

Tại bản cáo trạng số 07/Ctr - VKS ngày 21 tháng 02 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố bị cáo Hồ Bảo D, Phạm Văn T và Nguyễn Gia B về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kiểm sát viên trình bày lời luận tội và khẳng định cáo trạng truy tố hai bị cáo là đúng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho hai bị cáo như: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh kho khăn, bị cáo D gia đình có công với cách mạng, bị cáo B khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, các điều 17, 57, 65 Bộ luật hình sự tuyên bố bi cáo Hồ Bảo D, Phạm Văn T và Nguyễn Gia B phạm tội buôn bán hàng cấm, đồng thời xử phạt bị cáo Hồ Bảo D mức án từ 18 đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T mức án từ 14 đến 20 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách từ 28 đến 40 tháng.Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia B mức án từ 12 đến 16 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách từ 24 đến 32 tháng.

Về vật chứng:

Đối với số pháo đã thu giữ trọng lượng là: 35kg và 03 cái ba lô, 02 bao xác rắn đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với 03 điện thoại di động (01 hiệu Oppo màu hồng vàng; 01 hiệu Oppo màu đen và 01 hiệu Samsung J6+ màu đen) là cung cụ để liên lạc buôn bán pháo đề nghị tich thu sung quỹ nhà nước.

Người bào chưa cho bị cáo B trình bày quan điểm bào chữa:

Thứ nhất: Thống nhất quan điểm truy tố của vị đại diện viện kiểm sát, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà vị đại diệnViện kiểm sát đã đưa ra và cũng có một số quan điểm sau:

Bị cáo B tại thời điểm phạm tội dưới 18 tuổi, không có tiền án tiền sự, do ở vùng biên biên giới nên nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.

Thứ hai: Từ giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian bị áp dụng cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Vì vậy, người bào chửa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, các điều 91, 98, 100 của Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội xử bị cáo mức án 6 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách là 12 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Phước Long, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hồ Bảo D, Phạm Văn T và Nguyễn Gia B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố đối với bị cáo, phù hợp với lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở khẳng định:

Vào ngày 14/11/2018, Hồ Bảo D sử dụng điện thoại di động lên mạng “Zalo” và có kết bạn với với một đối tượng tên “LL” (chưa rõ lai lịch) ở Bình Phước. Sau đó đối tượng này hỏi mua 100 bịch pháo bi thì D nhắn tin đồng ý và bán với giá 30.000.000 đồng, rồi cả hai hẹn mua bán pháo tại khu vực thị xã Phước Long, Bình Phước. Sau đó D có gọi điện thoại cho Phạm Văn T và Nguyễn Gia B để bàn việc qua biên giới Campuchia mua pháo về Việt Nam bán lại kiếm tiền tiêu xài.

Ngày 21/11/2018, D đến nhà B và đưa cho B số tiền 9.000.000đ để đi mua pháo. Sau đó B qua lãnh thổ Campuchia mua 80 bịch pháo bi trị giá 9.000.000đ. Trong lúc B đi mua pháo thì D đi về và đưa cho T số tiền 1.000.000đ đi mua 03 cái ba lô để đựng pháo. Sau khi lấy tiền T đi đến chợ xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh mua 03 cái ba lô trị giá 600.000đ rồi đem đến nhà mẹ của B tại xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh cất giấu.

Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, D đến nhà B tại đây các bị cáo đã cho pháo vào bao tải sau đó D điện thoại cho Lê Đại N, tài xế xe ô tô (hiệu TOYOTA ALTIS biển số 70A-05120) mà D đã thuê trước đó chở qua khu vực thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước. Khi đến nơi D điện thoại cho đối tượng tên “LL” để giao pháo thì có 01 thanh niên đi xe mô tô ra đón và dẫn vào đường đất đỏ (thuộc khu phố 1, phường Long Phước, thị xã Phước Long, Bình Phước) thì bị lực lượng Công an thị xã Phước Long kết hợp với Công an phường Long Phước phát hiện, tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang.

Đối chiếu với lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng của vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi buôn bán pháo nổ là mặt hàng cấm kinh doanh của các bị cáo Hồ Bảo D, Phạm Văn T và Nguyễn Gia B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý kinh tế của Nhà nước về về pháo nổ. Các bị cáo nhận thức được việc buôn bán pháo nổ là vi phạm pháp luật, sẽ bị pháp luật xử lý. Nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền để sử dụng các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Tổng khối lượng pháo nổ do các bị cáo đem đi bán là 35kg. Do vậy, Viện kiểm sát Nhân dân thị xã Phước Long truy tố các bị cáo Hồ Bảo D, Phạm Văn T và Nguyễn Gia B về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi và hậu quả do các bị cáo gây ra là nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương, là nguyên nhân gây ra các hỏa hoạn và các tai nạn khác. Do vậy, cần phải xử ba bị cáo mức án nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, do ba bị cáo cùng thực hành việc phạm tội vì vậy cần phân tích vai trò và nhân thân của từng bị cáo để đưa ra một mức án phù hợp

Đối với bị cáo Hồ Bảo D là người trực tiếp giao dịch với người mua pháo tại thị xã Phước Long sau đó gọi điện cho bị cáo T và bị cáo B để bàn về việc mua pháo bên Camphuchia về Việt Nam bán kiếm lời, vì vậy bị cáo D là người giữ vai trò chính trong vụ án nên cần xử bị cáo mức án tương xứng để răn đe giáo dục bị cáo và hình phạt phải cao hơn so với bị cáo T và bị cáo B.

Đối với bị cáo T tuy không phải là người trực tiếp mua pháo nhưng bị cáo đã có vai trò giúp sức cho bị cáo D trong việc đi mua bao để bỏ pháo và cùng bị cáo B và bị cáo D đưa pháo sang thị xã Phước Long để bán.

Đối với bị cáo B tuy không phải là người có vai trò chính trong vụ án nhưng bị cáo là người trực tiếp mua pháo từ biên giới để cùng đi bán kiểm lời, tuy nhiên khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên hình phạt của bị cáo sẽ thấp hơn hai bị cáo còn lại.

Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo “Thành khẩn khai báo”, “Ăn năn hối cải”, các bị cáo có nhân thân tốt, gia đình các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, do các bị cáo đều sống ở vùng gần biên giới địa bàn rât khó khăn nên nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo D từng tham gia quân đội và gia đình có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần xem xét khi lượng hình. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo B là người thực hành việc phạm tội nhưng do bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91, 98 100 Bộ luật hình sự năm 2015 về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội là cần thiết.

Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, thực hiện tốt các chính sách của địa phương, Vì vậy, không cần cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ răn đe giáo dục các bị cáo.

Đối với Lê Đại N là người chạy xe dịch vụ, không biết các đối tượng trên cất giấu pháo nổ trong 03 ba lô và 01 bao tải; không biết các đối tượng trên thuê xe với mục đích đi bán pháo nổ nên không đề cập xử lý.

Đối với người bán số pháo nêu trên ở địa phận đất nước Campuchia và người mua pháo tên “LL” do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phước Long tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau nên HĐXX không đề cập xử lý.

. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số pháo đã thu giữ trọng lượng là: 35kg và 03 cái ba lô, 02 bao xác rắn cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 03 điện thoại di động (01 hiệu Oppo màu hồng vàng; 01 hiệu Oppo màu đen và 01 hiệu Samsung J6+ màu đen) là cung cụ để liên lạc buôn bán pháo cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với 01 xe ô tô hiệu Toyota Altis loại 04 chỗ màu nâu vàng, biển số: 70A-051.20 là của bà Nguyễn Thanh T (do Lê Đại N làm tài xế chạy dịch vụ). Khi chở D, B và T từ Tây Ninh qua thị xã Phước Long thì N và T không biết các đối tượng trên thuê xe với mục đích chở pháo đi bán. Ngày 10/12/2018 Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phước Long đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thanh T. nên không đề cập xử lý.

Về quan điểm của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về quan điểm của người bào chữa cho bị cáo B phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận một phần.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ vào điểm khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự;

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hồ Bảo D (L), Phạm Văn T (Q) và Nguyễn Gia B phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

1.1. Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58, 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Hồ Bảo D (L) 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng.

- Xử phạt Phạm Văn T (Q) 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thủ thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng.

1.2. Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58, 65, 91, 98 100 của Bộ luật hình sự năm 2015,sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia B 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng.

Giao các bị cáo Hồ Bảo D, Phạm Văn T và Nguyễn Gia B về Ủy ban nhân dân xã Phước Chi, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của bộ luật hình sự.

[2] Về vật chúng vụ án: Áp dụng điều 106 bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 35 kg pháo nổ

Tích thu sung quỹ nhà nước 03 điện thoại di động (01 hiệu Oppo màu hồng vàng; 01 hiệu Oppo màu đen và 01 hiệu Samsung J6+ màu đen)

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0003566 ngày 22 tháng 02 năm 2019 của Chi cục Thi hánh án dân sự thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước).

[3]. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và điểm 1 mục I danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện giám hộ của bị cáo được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương. Nơi Nhận:

Cỡ chữ