- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T
H
H
H
H
H V T M TH H PH TH B H
Đ c p – T do – H nh Ph c
T H TH B H Án số: 15/2018/HSST
Ngày 02 - 02 - 2018
NHÂN DANH
ƯỚC C NG HÒA XÃ H I CH
H V T NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Trần Hồng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đặng Thị Việt Hoài
2. Ông Vũ Tiến Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dương - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 02 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2018/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2018, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2018/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Trương Văn H, sinh ngày 29 tháng 8 năm1997 tại T; Nơi cư trú: Tổ 38, phường H, thành phố T, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Thanh H và bà Vũ Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 07 ngày 01/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình.(tại ngoại, có mặt)
- Bị hại: Chị Phan Hồng N, sinh năm 1997; Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh T. (vắng mặt, có lý do)
- Người làm chứng:Anh Hà Ngọc T, sinh năm 1982; chị Trương Thị L, sinh năm 1987 Cùng trú tại: tổ 38, phường H, TP T, tỉnh T (vắng mặt)
Ông Lại Hợp H, sinh năm 1964; Trỳ tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh T. (vắng mặt)
V
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi tối một ngày trong tháng 7 năm 2017, Trương Văn H đi bộ đến trường cao đẳng sư phạm T chơi. Khi đi qua lán trông giữ xe, H phát hiện thấy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda - Wave Alpha màu xanh, biển kiểm soát 17B8
- 219.20, ở ổ khóa cốp xe có cắm 01chìa khóa điện và 01 chìa khóa càng. H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy liền lại gần mở cốp xe máy thấy bên trong có 01 giấy đăng ký xe mang tên Phan Hồng N. Lúc này trong sân trường có nhiều người qua lại và lực lượng bảo vệ đang trông coi xe nên H không thực hiện được trộm cắp xe. H cầm lấy đăng ký xe và chùm chìa khóa xe máy trên đi về nhà. Khoảng 20 giờ ngày 18/11/2017 H đi bộ mang theo 01chiếc cờ lê, 02 chìa khóa khóa xe máy đã lấy trước đó đến trường cao đẳng sư phạm T. Khi đang ngồi uống nước thì phát hiện chị Phan Hồng N dắt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda-Wave Alpha, biển kiểm soát 17B8 - 219.20 từ ngoài vào để tại lán trông giữ xe của nhà trường. Đến khoảng 01 giờ ngày 19/11/2017 thấy không có người qua lại, H dùng chìa khóa mang theo mở cốp xe lấy 01 chiếc cờ lê, dùng 02 chiếc cờ lê giật, phá ổ khóa cổng của Ký túc xá, rồi cầm 02 chiếc cờ lê và ổ khóa bị phá hỏng cho vào túi áo đang mặc. H đến dắt chiếc xe máy trên ra ngoài cổng, lên xe điều khiển xe máy đến gửi tại Bệnh viện đa khoa thành phố T. Trên đường đi về nhà H đã vứt 02 chiếc cờ lê và 01 ổ khóa bị H phá hỏng xuống Sông T. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/11/2017 H nhờ chị Trương Thị L (chị gái H) chở sang Bệnh viện đa khoa thành phố T lấy chiếc xe máy trên mang về gửi tại nhà vợ chồng chị gái Trương Thị L, anh Hà Ngọc T và nói với vợ chồng anh T là chiếc xe máy của bạn gửi làm tin để vay tiền H.
Ngày 20/11/2017, chị Phan Hồng N đến Công an thành phố T trình báo về việc bị mất xe máy trên. Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda - Wave Alpha, biển kiểm soát 17B8 - 219.20 thuộc sở hữu của chị Phan Hồng N được Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự xác định trị giá là 19.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 14/KSĐT ngày 12 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Trương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm i; s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt Trương Văn H mức án từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo cho UBND phường H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; về vật chứng vụ án: Ngày 06/12/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chị Phan Hồng N chiếc xe máy Honda - Wave Alpha, BKS 17B8 - 219.20 cùng 02 chiếc chìa khóa, 01 giấy đăng ký xe và 01 vé xe, chị N không có yêu cầu gì khác nên không dặt ra giải quyết. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo đồng ý với tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát đề xuất, không có ý kiến gì.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
H Đ H
TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra , phù hợp với lời khai của người bị hại chị Phan Hồng N và lời khai người làm chứng là anh Hà Ngọc T, chị Trương Thị L và ông Lại Hợp H được chứng minh bằng biên bản quản lý vật chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường; bản kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 19/11/2017, tại khu vực lán trông giữ xe Trường Cao đẳng sư phạm T, Trương Văn H đã lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda - Wave Alpha, BKS 17B8 - 219.20 có trị giá là 19.000.000 đồng của chị Phan Hồng N. Bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, cần chấp nhận.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương và an toàn xã hội.Vì vậy cần áp dụng hình phạt thỏa đáng tương xứng hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, về nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự là các tình tiết để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để bị cáo tự cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tại phiên tòa là phù hợp.
Đối với chị Trương Thị L và anh Hà Ngọc T là người đã chở H đến Bệnh viện đa khoa thành phố T để H lấy xe và cho H gửi xe tại nhà mình, nhưng chị L, anh T không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là Phan Hồng N đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác; ông Lại Hợp H không yêu cầu bồi thường về 01 ổ khóa Việt Tiệp đã cũ nên không đặt ra giải quyết.
[4].Về xử lý vật chứng: Ngày 06/12/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Thái Bình đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Phan Hồng N các tài sản bị chiếm đoạt gồm 01xe máy nhãn hiệu Honda- Wave Alpha, biển kiểm soát 17B8 - 219.20; 01 giấy đăng ký xe; 02 chìa khóa và 01 vé xe nên không đặt ra giải quyết.
[5].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các l trên,
T Đ H:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 1 Mục I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Trương Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trương Văn H 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 02/02/2018.
Giao Trương Văn Hcho UBND phường H, thành phố T, tỉnh T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng ỏn treo thay đổi nơi cư trỳ thỡ thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Trương Văn H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo Trương Văn H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 02/02/2018. Bị hại chị Phan Hồng N vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./. ơi nh n
T M H Đ
T
TH M
- Người tham gia tố tụng;
Th m phán - h t a phiên tòa
- VKSND TP. Thái Bình;
- Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
- Chi cục THADS TP.Thái Bình;
- Công an thành phố Thái Bình;
Trần Hồng ơn
- Lưu hồ sơ vụ án.